Friday, October 7, 2022

PHẢI ĐÀO LÊN THÔI - 𝗗𝗜𝗚 𝗪𝗘 𝗠𝗨𝗦𝗧 - Jeff Heller

PHẢI ĐÀO LÊN THÔI - 𝗗𝗜𝗚 𝗪𝗘 𝗠𝗨𝗦𝗧

Jeff Heller
---------
Trích từ tạp chí 𝗔𝗟𝗙𝗥𝗘𝗗 𝗛𝗜𝗧𝗖𝗛𝗖𝗢𝗖𝗞’𝗦 𝗠𝗬𝗦𝗧𝗘𝗥𝗬 𝗠𝗔𝗚𝗔𝗭𝗜𝗡𝗘, số tháng Tám, 1961, nxb Davis Publications Inc., N.Y. 1961.
Vĩnh Bá dịch.


Đầu gối, lưng và hai cánh tay của Lorna Powell đau nhức, nhưng bà cảm thấy rất vui. Khuôn mặt đầy đặn, không nếp nhăn bên dưới cái mũ cói rộng vành biểu lộ vẻ tập trung mãn nguyện. Những cơn đau nhói vì chứng thấp khớp không làm chậm đi những động tác mạnh mẽ của cái xẻng làm vườn khi nó xóc vào lớp đất đã xới lên sẵn. Bà đang nghĩ đến những bông hoa uất kim hương.
“Buổi sáng tốt lành, bà Powell,” người đưa thư nói, tựa người vào cọc hàng rào. “Chưa xong hở bà?”
“Vẫn đang trồng, ông Forbes ạ,” Lorna vui vẻ nói. “Ông có thấy hoa dạ yến thảo của tôi mọc tốt ghê không? Nhờ cái nắng bấy lâu nay đó.”
“Quả thực bà đã làm nên phép lạ,” ông Forbes cười khẽ. “Cái gã Wally Birch ấy, chủ cũ nhà này, chỉ trồng được rác mà thôi. Biến nơi này thành một bãi rác. Chắc bà đã phải dọn cả một đống to tướng.”
“Vâng, đủ loại rác.” Lorna mỉm cười bao dung. “Tôi chưa gặp lại ông Birch từ khi nhận bàn giao nhà. Tôi biết ông ta sống đâu đó trong thị trấn.”
Người đưa thư càu nhàu. “Đúng. Một trong hai nơi, quán bar Keely hoặc là nhà tù. Thực may là bà đã ở trên tuyến đường đưa thư của tôi thay vì hắn, thưa bà Powell. Tôi nói thật đấy.”
“Ôi cảm ơn ông,” Lorna nói.
Khi người đưa thư đi khỏi, bà nghỉ tay một lát rồi tiếp tục công việc càng hăng say hơn nữa. Bà đã bón phân, nhưng đất không tốt hơn như lẽ ra phải thế; nhiều năm bỏ hoang và pha tạp với rác thải đã làm đất xấu đi. Vẫn còn những lon thiếc cũ, giấy báo, những cái đinh gỉ sét và đủ loại rác bên dưới bề mặt, và không tránh được những viên đá chạm lạch cạch vào cái xẻng. Cạch một viên nữa, bà chép miệng và gắng sức cạy nó lên.
Một viên đá trắng một cách kỳ lạ. Bà xới cho tơi lớp đất bám quanh cho nó long ra. Bà cầm nó, đứng lên, nhìn dáng bên ngoài kỳ lạ của nó, nhìn vào hai cái hốc rỗng mà trước đây hẳn là đôi mắt người đang nhìn lại bà.
Một cái sọ người.
Lorna thả rơi nó. Nó lăn theo kiểu lạ lùng và bà cố nén một tiếng thét. Rồi, sau một chốc ngẫm nghĩ, bà làm điều duy nhất hợp lý. Bà cúi xuống, nhặt cái vật rùng rợn ấy lên trong đôi bàn tay mang găng. Không dám mở lớn mắt, bà mang nó đi về phía cái thùng các-tông chứa rác rồi bỏ vào.
Nhưng giờ đây bà cảm thấy rúng động không thể tiếp túc việc xới đất. Bà buồn bã đưa mắt nhìn mảnh vườn lần cuối, rồi vào nhà để tự trấn tĩnh bằng một tách trà.
Chiều hôm ấy, bà ghé vào cửa hiệu Heather’s Gift Shoppe trong làng. Heather cũng là một người mê làm vườn, nhưng ngoài hạt giống và củ giống uất kim hương, Lorna còn nghĩ đến chuyện khác. Bà tiến đến quầy, và Heather, một bà cô không chồng cao lênh khênh, đeo một cặp kính lớn bên ngoài đôi mắt sáng, mỉm cười niềm nở. “Chào Lorna thân mến. Vườn tược ra sao rồi?”
“Ồ, cũng được,” Lorna hững hờ nói, nhìn những cái cốc bằng hợp kim thiếc.
“Nghe giọng bà không hăng hái lắm. Cái lưng lại hành chứ gì?”
“Ồ, tôi quen với cái lưng đau rồi.” Bà nhìn xéo qua người khách duy nhất trong cửa hiệu rồi hạ giọng. “Heather này, có lần bà nói với tôi gì đó về ông Birch, phải không? Bà cũng biết, người đã bán nhà cho tôi ấy?”
Heather cau mày. “Birch! Ừm. Về hắn thì có khối chuyện để nói, nhưng hồi trước bà chẳng có vẻ quan tâm gì. Tôi chẳng hiểu bà ra sao cả, Lorna ạ, một nửa niềm vui sống trong một thị trấn như thế này chính là buôn chuyện thiên hạ.” Bà ta cười khẽ rồi nói thêm, “Thế bà muốn biết chuyện gì?”
“Ờ-ờ, tôi nhớ bà có nói gì đó về vợ ông ta—”
“Vợ chết rồi,” Heather nói tỉnh khô. “Chèo thuyền ra hồ lúc sáng sớm và khi thuyền trôi về thì là thuyền không. Bà biết chuyện ấy rồi chứ?”
“Tôi biết ông ta trở thành góa vợ năm ngoái. Tôi cho rằng đó là lý do ông ta bán nhà.”
“Vấn đề là, người ta không tìm được xác bà vợ. Hồ sâu quá, họ nói. Dẫu sao, họ rà lưới suốt mấy ngày, rồi đành bỏ cuộc.”
“Có phải đó là lúc—” Lorna tế nhị ngừng nói. “Là lúc ông Birch bắt đầu uống rượu?”
“Birch ư?” Heather phá ra cười. “Wally Birch không cần có cớ để say sưa. Hắn đã nát rượu khi vợ còn sống. Người ta vẫn thuê hắn làm việc thì kể cũng lạ.”
“Hắn làm nghề gì?”
“Ai thuê gì làm nấy. Có lần tôi thuê hắn gắn mấy tầng kệ và hắn làm khá tốt. Nhưng cả nhà nồng nặc mùi rượu suốt cả tháng.” Bà ta nheo mắt nhìn Lorna. “Này, sao bà bỗng dưng quan tâm như thế. Hắn không quấy rầy bà đấy chứ?”
“Không, không,” Lorna nói ngay. “Tôi không gặp ông ta mấy tháng nay. Chỉ là—tò mò thôi.”
“Ờ, nếu muốn biết thêm điều gì, bà chỉ việc hỏi Pauley ở cửa hàng thực phẩm. Y biết hết mọi chuyện về mọi người trong thị trấn này. Đâu phải đàn bà mới hay buôn chuyện! Lorna này, bà nghĩ sao về những cái cốc có quai ấy. Chỉ một đô-la rưỡi thôi và làm bằng hợp kim thiếc thứ thiệt đó.”
* * *
Ông Pauley quay lui khỏi những cánh cửa kính của tủ ướp lạnh, hai má đang phình ra vì đang nhai một lát giăm-bông.
“Nhiều ngày không gặp, thưa bà Powell. Người ta bảo tôi bà đang biến mảnh vườn thành một điểm tham quan đấy.”
“Vẫn đang làm,” Lorna mỉm cười. “Ồ, tôi cần mua thêm ít trà, ông Pauley ạ. Mà này,” bà nói vẻ bâng quơ khi ông chủ tiệm đi tới chỗ kệ hàng, “một người bạn vừa kể cho tôi nghe về gia đình Birch. Khách hàng của ông, phải thế không?”
“Không thường xuyên. Ngưng mua hàng khi họ không thanh toán các hóa đơn, mà chuyện này thì cứ vài tháng xảy ra một lần, đều đặn như đồng hồ.”
“Tội nghiệp bà Birch, đúng không? Bà ấy ra đi như thế chắc hẳn làm ông chồng đau buồn lắm—”
“Wally đau buồn ư?” ông chủ tiệm cười lớn. “Hắn mừng hết lớn khi trừ khử được bà ấy. Sao chứ, hai người ấy gấu ó nhau hơn cả hai con chó giành xương. Cứ cách một đêm là bà ấy lại vứt một trong những cái tẩu thuốc hôi hám của hắn ra đường, sau đó tống khứ hắn ra theo luôn.” Ông ta dằn mạnh cái hộp các-tông trà lên quầy. “Đừng lo cho Wally. Hắn ăn mừng từ khi bà ấy chết.”
“Một cái chết—kể ra cũng lạ, phải không?”
“Một số người không nghĩ thế,” ông Pauley nói, nhoài người về phía bà đầy vẻ bí ẩn. “Một số người—và tôi không có ý nói có tôi trong đó, Wally Birch là bạn tôi—một số người nghĩ không phải là tai nạn. Rằng là Wally có nhúng tay vào.”
“Ôi trời!” Lorna thốt lên. “Ý ông không phải là án mạng đấy chứ?”
“Một số người nghĩ như thế đấy,” ông Pauley nói nghiêm trang.
Lorna rời khỏi cửa hàng thực phẩm với tâm trạng gần như bị sốc. Liệu lòng căm ghét của Wally Birch dành cho người vợ giải thích cho màu sắc rất rực rỡ của những đóa uất kim hương của bà, cái lộng lẫy khác thường của hoa dạ yến thảo? Đấy là một ý tưởng hãi hùng, và bà chuyển sang một cách suy luận hợp lý hơn. Liệu cái sọ người ấy có thể là một di cốt của người da đỏ, một vật hóa thạch của một thời đã bị lãng quên từ lâu? Cần gì phải vội vàng kết luận, để rồi cảnh sát kéo tới khắp trong vườn với cuốc xẻng, phá nát công trình suốt một mùa của bà, làm hỏng mất cơ hội tham gia lễ hội hoa?
Về lại nhà, bà mang vào đôi găng tay làm việc, rùng mình, lấy cái sọ người trong thùng rác ra. Tốt nhất là nên cất cái sọ vào trong cái tủ chứa chổi quét, chờ cơ hội thuận tiện để trình cho cảnh sát. Rón rén, quay mặt sang hướng khác, bà bỏ nó vào trong một cái xô, lấy mấy miếng giẻ bẩn đậy lại, rồi ra phòng khách ngồi đọc tập danh mục các loại hạt giống.
Vài phút sau, tiếng gõ cửa bất ngờ khiến bà giật mình, đánh rơi tập danh mục.
Bà ra mở cửa, và đối mặt với một gương mặt râu ria không cạo, bẩn thỉu, một cái hàm hung dữ, đôi vai to lớn của Wally Birch. Hắn mặc bộ áo liền quần lấm sơn và dầu mỡ, và đang bập lấy bập để một cái tẩu thuốc cũ bẩn thỉu.
“Tôi muốn nói chuyện với bà,” hắn gằn giọng.
“Về việc gì—về việc gì—”
“Tôi vào được hay không được?”
Bà tránh sang bên và hắn xộc vào, dấu chân vấy bùn lên tấm thảm. Một đám khói mù mịt thoát ra từ nơi tẩu thuốc, và mùi hăng nồng khiến bà không chịu nổi.
“Tôi nghe nói bà đi dò la khắp thị trấn,” hắn nói. “Mục đích gì? Bà mua căn nhà này với giá rất hời. Vậy còn tò mò tọc mạch làm gì nữa?”
“Không phải thế đâu, ông Birch ạ. Nếu có ai trong thị trấn này chỉ biết lo chuyện của riêng mình thôi, thì đó chính là tôi.”
“Ờ, cứ tiếp tục lo việc của riêng bà và để cho tôi yên! Thắc mắc chuyện gì thì hỏi tôi.”
“Ông không cứ gì phải gay gắt thế. Tôi biết đến—bi kịch của ông chỉ mới hôm nay, nên đương nhiên tôi tò mò. Không tò mò sao được?”
Hắn tiến đến cạnh bà, mang theo mùi thuốc lá và rượu whiskey nồng nặc. “Nghe đây, này quý bà. Sẽ có bi kịch tệ hơn nữa nếu bà cứ tiếp tục xen vào chuyện người khác. Tôi nói cho bà biết một lần dứt khoát: hãy để quá khứ ngủ yên! Tôi gặp đủ rắc rối với đàn bà rồi!”
“Đến thế sao, ông Birch!” bà hoảng hốt.
Hắn dứ một nắm đấm như cái búa tạ vào mặt bà. “Liệu hồn đấy, không nghe lời tôi thì bà biết tay!”
Hắn quay người bước ra khỏi nhà, để bà đứng đấy nín thở vì sợ.
Khi bà thở lại được, việc đầu tiên là bà mở hết mọi cửa sổ, tim vẫn đập như trống trận. Việc tiếp theo là gọi điện cho Letitia Daley để xin lời khuyên. Letitia là thành viên của câu lạc bộ làm vườn, và anh bà ấy là cảnh sát trưởng. Letitia không có nhà, nhưng cuộc điện thoại này khiến bà quyết định. Bà đội cái mũ rơm đẹp nhất, đeo găng tay da vào và lên đường để đưa Wally Birch vào sau bộ song sắt chắc chắn nhất của thị trấn, vĩnh viễn.
* * *
Cảnh sát trưởng Daley là một người thấp bé, với đôi mắt xanh thân thiện và một cái đỉnh đầu nhẵn thín lơ thơ vài sợi tóc vàng. Lorna ngồi đối diện ông ta qua một mặt bàn bề bộn, và bà vào đề ngay.
“Có phải,” bà nói, “nhiều người nghĩ rằng Wally Birch giết vợ ông ta?”
Daley cau mày. “Bà đang nhìn vào mặt một người trong số ấy đấy, thưa bà Powell. Vụ đó là nỗi thất vọng lớn nhất trong đời tôi. Tôi biết hắn có dã tâm, động cơ, cơ hội. Tôi nghĩ hắn đã giết vợ, nhưng đừng bắt tôi chứng minh. Có phải bà đến đây vì Wally Birch?”
“Wally Birch—và có lẽ có cả bằng chứng mà ông đang cần.”
Daley mỉm cười tỏ vẻ không tin. “Bà nói thật chứ?”
“Tôi đã có bằng chứng, ông đừng lo.” Bà vuốt chiếc váy cho thẳng. “Nhưng vì một số lý do, thưa ông cảnh sát trưởng, tôi chưa thể cho ông biết là bằng chứng gì. Đợi một lúc nữa cái đã.”
Ông ta tỏ vẻ băn khoăn. “Bà tìm thấy gì trong nhà hắn à? Một lá thư? Vết máu?”
“Hiện giờ tôi chưa thể nói ra được.”
“Chưa thể?” Daley lập lại, vẻ bực dọc. “Và trong khi chờ đợi tôi phải làm gì, thưa bà Powell?”
“Đương nhiên là giam hắn lại.”
“Bà nghiêm túc đấy chứ, thưa bà Powell? Tôi không thể tống giam Birch với những bằng chứng mà tôi không có. Nếu bà thực sự khám phá được gì, tôi khẩn thiết yêu cầu bà giao cho tôi!”
“Tôi không thể làm thế được,” bà khăng khăng, nghĩ đến những bông hoa mỏng manh của bà, đã được chăm bón cẩn thận cho cuộc triển lãm.
“Bà Powell này, thế là bà chẳng giúp được gì—”
“À, ông không thể giam hắn lại vì đe dọa tôi ư? Hắn làm như thế đấy, ông biết không. Ngay chiều hôm nay.”
“Birch đe dọa bà? Tại sao?”
“Vì tôi hỏi han này nọ, lí do là thế. Hắn bảo tôi lo mà ngừng đi nếu không sẽ gặp rắc rối. Ông không thể giam hắn lại vì hành vi ấy ư?”
Daley thở dài. “Tôi rất tiếc, bà Powell ạ, làm thế không được đâu. Tốt nhất là bà cho tôi biết những gì bà biết. Nếu không tôi đành bó tay.”
“Nhưng hắn có thể—làm hại tôi!”
“Vậy thì cách tốt nhất là thành thật với tôi!”
Lorna đứng dậy. Thoạt đầu bà phân vân giữa việc nói hay không nói. Nếu nói ra, khu vườn sẽ nát bét vào ngày hôm sau, khi người ta tìm kiếm số xương còn lại của bà Birch. Nếu bà không nói—ít nhất cho đến sau khi lễ hội hoa kết thúc—
“Tôi rất tiếc, thưa cảnh sát trưởng. Tôi không có ý đánh đố, nhưng ông cũng biết phụ nữ đôi khi hành xử ra sao. Nhưng cũng rất cảm ơn ông.”
Bà đi ra, suýt va phải ông Pauley, chủ tiệm thực phẩm, người đang chờ ở văn phòng ngoài. Ông ta đưa tay lên chạm mũ và mỉm cười ngượng nghịu, chỉ vào cái túi chứa thực phẩm để trên băng ghế. “Giao thực phẩm thường kỳ cho phạm nhân, thưa bà,” ông ta nói. “Rất vui được gặp lại bà.”
“Chúc ông ngày lành, ông Pauley,” Lorna nói gượng gạo.
Lorna không hề sợ cô đơn hay bóng tối; nhiều năm góa bụa đã giúp bà quen với cả hai. Nhưng đêm ấy, mùi thuốc lá hôi hám của Wally Birch vẫn còn phảng phất trong phòng trước, cái mùi nhắc nhớ bạo lực và nguy hiểm. Bà cố trấn áp mùi hôi bằng cách nướng một mẻ bánh quy hạt óc chó đen, và mánh lới này công hiệu cho đến giờ đi ngủ. Nhưng đúng lúc bà chuẩn bị tắt đèn để lên lầu thì có tiếng đập cửa trước.
Tim bà vẫn dội lại tiếng đập khi bà mở cửa. Lần này, Wally Birch đã quên cái tẩu thuốc của hắn, và nếu mùi nồng nặc của hắn là một chỉ dẫn, thì có lẽ đã bỏ quên nơi quầy của quán rượu. Đôi mắt đục lờ, đỏ ngầu, mí mắt cũng đỏ. Hắn đang say khướt; hắn bước vào phòng như muốn ngã chúi, và Lorna hét lên vì sợ hãi.
“Con mẹ già,” hắn lẩm bẩm. “Mụ già lắm chuyện. Tao đã cảnh báo mụ phải thôi quấy rầy tao? Đúng không?”
Bà lùi vào giữa phòng, sợ quá không thể phân bua gì với hắn. “Tôi không làm gì hại đến ông—xin để tôi yên—”
“Mụ tưởng tôi sẽ bỏ qua cho mụ ư? Hả?”
“Ra khỏi đây!” bà ra lệnh, giọng run run. “Ông ra khỏi đây ngay, ông Birch. Tôi không muốn ông ở trong nhà này!”
“Mụ đi gặp cảnh sát, phải không?” hắn gằn giọng. Rồi hắn bước tới một bước dài, lảo đảo, suýt té nhào. “Mụ tới báo cho cảnh sát về tôi!”
“Xin làm ơn đi cho!”
“Pauley cho tôi biết,” hắn nói. “Pauley đã nghe những điều mụ nói với thằng Daley còi ấy. Thế ra mụ phát hiện được gì, hả?” Hắn cười khan một tiếng. “Được rồi, nói ra đi—”
“Không đúng đâu. Tôi chẳng phát hiện gì cả!”
“Đừng nói dối với tao!” hắn hét lên. “Nói cho tao biết nếu không tao đập vỡ đầu mày!
Hắn chộp lấy cái gì đó nơi bàn để củng cố lời đe dọa; chỉ sau này Lorna mới biết đấy là kỷ vật thu nhỏ nhân Hội Chợ Quốc Tế của bà. Bà ôm mặt, co rúm lại.
“Thế ra ông giết bà ấy thật,” bà nói tức tưởi. “Ông đã thực sự giết vợ—”
“Và tao sẽ giết mày luôn!” hắn gầm lên. “Tao sẽ giết luôn mày, mụ già lắm chuyện. Mày cũng chẳng khác gì vợ tao! Y hệt vợ tao!”
“Xin làm ơn, ông Birch, xin đừng! Làm ơn, làm ơn—”
Hắn loạng choạng bước thêm một bước, và Lorna thét lên. Cái phản ứng mà tiếng thét này gây ra khiến bà ngạc nhiên nhiều hơn cả Birch. Cửa trước bật mở, và Birch nặng nề quay lui, đôi mắt hấp háy ngờ nghệch nhìn sững cái bóng người mặc đồng phục đang sải bước vào phòng. Không khẩu súng nào được rút ra; nơi người mới vào toát ra một thứ uy quyền lớn đến mức Birch chỉ còn biết hạ cái vật bằng đồng thau đang cầm trong tay xuống, rồi chậm rãi lắc đầu, một cử chỉ van nài và chịu thua.
“Tôi không làm gì cả,” hắn lắp bắp. “Thật thế, tôi chẳng làm gì cả . . .”
“Ơn Chúa!” Lorna gần như khóc, chạy tới chỗ viên cảnh sát. “Ơn Chúa, anh đã nghe tiếng tôi—”
Viên cảnh sát chạm nhẹ vào cánh tay bà. “Ổn rồi, thưa bà Powell, tôi canh bên ngoài nhà bà cả tiếng nay rồi. Cảnh sát trưởng Daley bảo tôi canh chừng nhà bà trong vài ba đêm, bảo rằng có thể bà cần được bảo vệ.” Anh ta trừng mắt nhìn Birch. “Và cảnh sát trưởng đã nghĩ đúng . . .”
“Hắn giết vợ!” Lorna nói, chỉ một ngón tay run run vào Birch. “Hắn thú nhận với tôi. Hắn giết bà ấy—”
“Vâng, hắn sẽ không quấy rầy bà nữa; chắc chắn là thế rồi.” Anh ta chộp lấy một cánh tay của Birch, lôi hắn ra phía cửa trước. “Tôi đưa hắn về đồn giao cho cảnh sát trưởng xử lý.”
* * *
Sáng sớm hôm sau, một vài cụm mây xuất hiện, nhưng đến 8 giờ thì mặt trời xuyên qua mây tỏa nắng xuống khu vườn. Lorna ra khỏi giường lúc chín giờ rưỡi và quyết định nuông chiều bản thân thế là đủ. Bà thay quần áo, ăn một bữa ăn sáng nhẹ, rồi trở lại làm việc giữa những bông hoa.
Khi xe của cảnh sát trưởng Daley đỗ lại trước hàng rào, bà ngừng tay, ngẩng lên nhìn, gạt sang bên mớ tóc lòa xòa che mắt.
“Chào bà Powell,” giọng Daley vui vẻ. “Rất tiếc không nói chuyện được với bà tối qua, vì chúng tôi khá bận rộn.”
Bà đứng dậy. “Tôi muốn cảm ơn ông đã cử anh cảnh sát tử tế ấy đến canh chừng nhà tôi. Trời mới biết chuyện gì đã có thể xảy ra nếu—”
“Vâng, khá nhiều chuyện đã xảy ra, nhờ có bà.” Ông tựa người vào hàng rào. “Wally Birch thú tội tối qua. Rốt cuộc chúng tôi cũng biết được sự thật. Đúng là hắn giết vợ.”
“Thật khủng khiếp,” Lorna nói. “Tôi mừng là mọi sự đã qua . . .”
“Còn một điều tôi vẫn thắc mắc là bà đã tìm thấy gì, thưa bà Powell. Điều gì khiến bà tin chắc đây là một vụ giết người?”
“Ông sẽ không xới vườn tôi lên nếu tôi nói ra chứ? Ý tôi là, chờ ít nhất là sau lễ hội hoa đã?”
“Xới vườn bà lên? Tôi không hiểu.”
“Ông sẽ hiểu,” Lorna thở dài. “Chờ tôi một lát.”
Bà vào nhà, tới chỗ cái tủ đựng chổi, mang cái sọ người ra cho cảnh sát trưởng.
“Đây,” bà nói, trao cái vật ghê rợn ấy. “Đây là lý do tôi biết chắc, thưa cảnh sát trưởng. Tôi tìm thấy vật này trong vườn hôm qua.”
Ông nhíu mày, tay xoay xoay vật ấy.
“Lạ thật, Birch thú nhận giết vợ, đúng thế, nhưng hắn nói hắn dìm bà ấy xuống nước mà.”
Những ngón tay ông chậm rãi xoay cái vật ấy, như thể đang tìm cái gì, cuối cùng ông bóp mạnh cái hộp sọ. Phải mất một lúc mới thấy xuất hiện một kẽ nứt, và rồi đỉnh hộp sọ bật mở trên một cái bản lề nhỏ.
Daley thò tay vào đáy hộp sọ, mấy ngón tay vân vê những sợi lá vụn khô và đen.
“Thuốc để hút tẩu,” ông nói. “Cái này chỉ là hộp giữ ẩm kiểu cổ thôi, bà Powell ạ.”


Sunday, September 4, 2022

BẾN ĐÒ CỒN - MỘT CHUYẾN ĐÒ NGANG.

BẾN ĐÒ CỒN - MỘT CHUYẾN ĐÒ NGANG.

“Anh về Đập Đá đưa đò
Trước đưa quan khách, sau dò ý em”. (Ca dao)


Từ cầu Trường tiền, với 50.000 vnđ, bạn có một cuốc xích lô đi về đường Trịnh, nơi có bến đò chạy ngang qua cồn.
Qua sông thì phải lụy đò, nhưng mà ông lái đò không để tụi mình chờ lâu.
Chỉ cần “Đò ơi!" là anh ấy đã có mặt.
10.000 vnđ/ người/chuyến qua sông, nghe thoáng xót xa hì.
Cho nên đôi khi đò ngang nhìn thấy buồn là thế.
“Vậy khi không có khách, anh mần chi ? “
- “dạ em nằm chơi, nhìn sông nước . Ai kêu thì em chạy.”.
À há!
Vậy thì Tôi và Anh, hạnh phúc chưa biết ai hơn ai.
Đò bây chừ không còn như xưa nữa. Chạy bằng dầu máy, đò khởi động ầm ầm. Ông lái đò nay chắc cũng không còn tâm trạng nữa để mà hò ơ.
Đò qua sông.
Sóng bập bềnh. Nước xanh trong . Trời xanh trong.
Cồn Hến có vẻ khang trang hơn xưa . Con đường cũ .
Góc đường nơi có nhà bạn thân cũ, đã xây mới.
Trong không khí nghe thơm mùi thương nhớ.
Kết thúc chuyến thăm cồn Hến của mình là 1 cơm Hến, 1 bún Hến, 1 chè bắp. Ăn xong đứng dậy đi không nổi.
Biết ăn không nhiều được mà vẫn cứ ăn.
Bởi mấy khi về Huế ghé Cồn.
Mấy khi được chảy nước mắt vì Huế, được xuýt xoa vì vị nồng cay của ớt, và được ngậm ngùi với mùi đậm đà của ruốc, của sả. Tất cả chỉ có ở Huế, với Huế và trong Huế.
Có lẽ chỉ ai là con cái Huế mới hiểu được chân tình của đứa con xa xứ dành cho Huế nó thiết tha như thế nào thôi !

Một cuốc xích lô từ Tràng Tiền về bến đò Cồn.













Saturday, September 3, 2022

ĐẦM CHUỒN AN TRUYỀN

ĐẦM CHUỒN AN TRUYỀN - MỘT NGÀY KHÔNG NẮNG.

Từ trung tâm thành phố Huế chạy xe khoảng 15 km, bạn đến Đầm Chuồn.

Ấn tượng ban đầu của mình là Đầm Chuồn, dù đã bắt đầu nổi tiếng, nhưng dáng vẻ lam lũ của làng chài nhỏ ngoại ô thành phố vẫn còn đậm nét. Cảnh sắc hiền hoà của vùng đầm nước lợ và người dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá làm xao lòng mình. Xem ra họ còn vất vả lắm.
Vài tiếng đồng hồ trong làng, bạn đã có thể cảm nhận được cuộc sống của một làng chài vẫn còn mộc mạc nguyên sơ của Huế.
Những chiếc ghe cá về sớm neo lại trong đầm chờ ngày mai lại rời bến.
Hồ sen cuối mùa với những gương sen cúi mặt, hứa hẹn cho bạn những hột sen tròn trịa.
Vào chợ, bạn dễ dàng mua cá tôm mực tươi roi rói, với giá rất mềm.
Bạn có thể thưởng thức món bánh xèo cá kình đặc sản của Đầm Chuồn, được làm ngay tại chỗ.
Mình tới đó một ngày không nắng.
Nét đơn sơ mộc mạc của người dân ở đây với những tiếng O Tui thiệt thà đến nao lòng.
Nếu bạn thích check in những nơi hào nhoáng sang chảnh, thì bạn đừng tới đây.
Ở đây chỉ có màu của những nụ cười như nắng, có vị thật thà trong tiếng í ới gọi nhau, có những hồ sen úa mà chỉ tới mùa thì hoa mới rực rỡ thôi.
Nhưng mình đã rất vui khi tới đây.
Và ra về thì lòng thật quá bâng khuâng.
















Thursday, August 25, 2022

𝗟𝗢𝗩𝗘 - William Maxwell

YÊU THƯƠNG

Dịch giả : Vĩnh Bá.
𝘾𝙤̂ 𝙑𝙚𝙧𝙖 𝘽𝙧𝙤𝙬𝙣, cô viết tên cô lên bảng, từng mẫu tự một rất đẹp, theo kiểu chữ Palmer. Cô giáo lớp 5 của chúng tôi. Kiểu chữ viết tên cô mà khắc lên bia đá cũng hợp.
Khi cô điểm danh, giọng cô rất dịu dàng như đôi mắt mầu nâu sẫm xinh đẹp của cô. Cô khiến tôi liên tưởng đến hoa 𝙥𝙚𝙣𝙨𝙚́𝙚. Khi cô gọi bạn Alvin Ahrens đứng đậy trả bài, bạn ấy nói: “Cháu biết nhưng cháu không phát biểu được,” cả lớp cười khúc khích, nhưng cô khích lệ: “Cố lên,” và chờ đợi để biết chắc là bạn ấy không biết câu trả lời, cô mới nói với một trong những cánh tay đang giơ lên vẫy vẫy: “Hãy nói cho bạn Alvin biết một phần năm nhân với ba phần tám là bao nhiêu.” Nếu chúng tôi đến trường trễ, mặt đỏ bừng, thở hổn hển, chưa kịp viện cái cớ mà chúng tôi đã nghĩ ra trên đường tới trường, thì cô đã nói: “Cô chắc các cháu không tránh được việc đến trễ. Khép cửa lại và về chỗ ngồi đi.” Nếu cô giữ chúng tôi lại sau giờ học, chẳng phải là để trách mắng, mà để giúp chúng tôi hiểu bài hơn.
Ai đó để một quả táo đỏ lên bàn của cô, cốt để cho cô thấy khi cô vào lớp, cô mỉm cười rồi cất quả táo vào hộc bàn để khỏi ai thấy. Một ai khác để lên bàn cô hoa cúc tây màu tím, cô cắm hoa vào trong cốc nước của cô. Sau đó thì quà tặng đến rất đều. Cô là cô giáo xinh đẹp duy nhất trong trường. Cô không bao giờ bắt chúng tôi phải im lặng hoặc phải ngưng cái trò ném cục tẩy vào nhau. Chúng tôi không dám nghĩ đến chuyện làm điều gì khiến cô buồn lòng.
Ai đó nói khéo sao đó khiến cô tiết lộ ngày sinh của cô. Chờ lúc cô ra khỏi phòng học, cả lớp biểu quyết tặng cô hoa từ vườn ươm. Biểu quyết lần hai thì hoa được chọn là hoa hương đậu. Khi cô thấy chiếc hộp của cửa hàng hoa chờ sẵn trên bàn, cô nói: “Ồ?”
“Mở hộp đi cô,” cả lớp cùng nói.
Những ngón tay búp măng dường như mất rất lâu mới mở được dải băng. Cuối cùng cô giở được nắp hộp và thốt lên ngạc nhiên. “Đọc thiệp đi cô!” chúng tôi la lớn.
𝘾𝙝𝙪́𝙘 𝘾𝙤̂ 𝙑𝙚𝙧𝙖 𝘽𝙧𝙤𝙬𝙣 𝙨𝙞𝙣𝙝 𝙣𝙝𝙖̣̂𝙩 𝙫𝙪𝙞 𝙫𝙚̉, 𝙩𝙖̣̂𝙥 𝙩𝙝𝙚̂̉ 𝙇𝙤̛́𝙥 𝙉𝙖̆𝙢, thiệp viết.
Cô cúi xuống ngửi hoa rồi nói: “Cô cảm ơn tất cả các em rất, rất nhiều,” và rồi cô nhắc chúng tôi trở lại với giờ học tập viết cho ngày hôm đó.
Sau khi tan học, chúng tôi kéo thành một đoàn dẫn cô đi phố để xem xuất chiếu buổi chiều phim “Những Tấm Lòng Của Thế Giới” của đạo diễn D. W. Griffith. Chúng tôi không cho cô tự mua vé. Chúng tôi bao hết.
Chúng tôi muốn cô dạy chúng tôi mãi mãi. Chúng tôi có ý định dẫn cô theo với chúng tôi lên lớp 6, lớp 7, lớp 8 và lên tiếp trung học. Nhưng đã không được như thế. Một ngày nọ có một cô giáo đến dạy thay. Chúng tôi mong ngày hôm sau cô giáo thực của chúng tôi sẽ trở lại. Nhưng cô không đến. Tuần này sang tuần khác, cô giáo dạy thay vẫn cứ ngồi nơi bàn của Cô Brown, gọi chúng tôi đứng dậy trả bài, ra bài kiểm tra, chấm điểm rồi trả bài, và chúng tôi vẫn cư xử như hồi có Cô Brown vì chúng tôi không muốn khi trở lại cô biết rằng chúng tôi đã không ngoan với cô giáo dạy thay.
Sang mùa thu, chúng tôi lên lớp 6 mà cô vẫn không trở lại. Mẹ của bạn Benny Irish biết được cô đang sống chung với một bà thím và một ông chú nơi một nông trại ở ngoài thị trấn chừng một dặm, nói cho mẹ tôi biết, rồi mẹ tôi kể với một người khác nữa mà tôi nghe lỏm được. Một chiều nọ sau khi tan học, Benny và tôi cưỡi xe đạp đi thăm cô. Ở nơi con đường rẽ dẫn đến nghĩa trang và đến cơ sở của hội giáo dục Chautauqua, có một nhà kho lớn sơn đỏ treo một tấm bích chương khổng lồ quảng cáo cho rạp xiếc, vẽ hình toàn bộ phía bên trong căn lều của Gánh Xiếc Sells-Floto và chi tiết các màn trình diễn ở cả 3 sàn diễn. Vào mùa hè, ngồi trên băng ghế sau của chiếc xe mui trần Chalmers của ba tôi, tôi thường rướn cổ khi xe chạy ngang qua đoạn đường cong ấy, hy vọng nhìn thấy mọi con hổ và diễn viên đu bay cuối cùng, nhưng không bao giờ thấy được. Tấm bích chương đã tơi tả vì thời tiết, lòng thòng những dải giấy rách.
Trời sắp tối khi chúng tôi đạp xe vào con đường nhỏ dẫn đến ngôi nhà nông trại nơi Cô Brown đang ở.
“Mày gõ cửa đi,” Benny nói khi chúng tôi bước lên hàng hiên.
“Không, mày gõ đi,” tôi nói.
Chúng tôi đã không hình dung khi gặp cô thì sẽ như thế nào. Hẳn chúng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu đích thân cô ra đến cửa, đưa hai tay lên tỏ ra bất ngờ khi nhận ra ai đến thăm, nhưng thay vào đó, một bà lớn tuổi hơn nhiều ra mở cửa, “Hai cháu cần gì?”
“Chúng cháu đến thăm Cô Brown,” tôi nói.
“Cô dạy lớp chúng cháu,” Benny giải thích.
Tôi có thể thấy bà này đang cân nhắc có nên đuổi chúng tôi về, nhưng rồi bà nói: “Để tôi xem cô ấy có muốn tiếp hai cháu không,” nói xong bà ấy để chúng tôi đứng đợi rất lâu trên hàng hiên. Bà trở ra, nói: “Hai cháu vào được rồi đấy.”
Khi chúng tôi đi theo bà ngang qua phòng khách phía trước, tôi nhận ra trong ánh sáng mờ mờ một chiếc đàn phong cầm kiểu cổ, giống loại đàn ở các nhà thờ miền quê, thảm linoleum trên sàn nhà, những chiếc ghế dựa cứng nhắc không thoải mái, và chân dung những người trong gia đình lồng trong khung kính lớn hình bầu dục.
Căn phòng tiếp đó được rọi sáng bằng một ngọn đèn dầu nhưng trông có vẻ tối hơn nhiều so với căn phòng không đèn chúng tôi vừa mới băng qua. Dựa lưng vào mấy chiếc gối trên một cái giường đôi lớn là cô giáo của chúng tôi, nhưng đã thay đổi hẳn. Hai cánh tay cô như hai que củi, và toàn bộ sức sống dường như chỉ còn đọng lại trong đôi mắt, quầng thâm bao quanh, đôi mắt đang mở rất lớn. Vẻ nhận biết gắng gượng được chỉ thoáng qua rất nhanh trên mặt, nhưng tôi cảm thấy ngỡ ngàng vì cô không tỏ ra vui mừng khi gặp hai đứa tôi. Cô không còn thuộc về chúng tôi nữa. Cô thuộc về căn bệnh của cô.
Benny nói, “Cháu mong cô sớm khỏe lại.”
Vị thiên thần đã bảo bọc những cậu bé hiểu bài nhưng không phát biểu được, giờ đây bảo đảm là hai chúng tôi không chạm tay vào bất cứ thứ gì, rồi một lát sau chúng tôi trở ra, lên xe đạp đi trong ánh hoàng hôn tới đoạn đường cong rồi về hướng thị trấn.
Vài tuần sau, tôi đọc được trên tờ báo 𝙇𝙞𝙣𝙘𝙤𝙡𝙣 𝙀𝙫𝙚𝙣𝙞𝙣𝙜 𝘾𝙤𝙪𝙧𝙞𝙚𝙧 rằng Cô Vera Brown, giáo viên lớp 5 trường Central School, đã qua đời vì bệnh lao, hưởng dương hai mươi ba năm, bảy tháng.
Đôi khi tôi đi cùng mẹ tôi đến đặt hoa lên mộ ông bà tôi. Những lối đi rải than vụn chạy quanh co qua nghĩa trang mà chỉ mẹ tôi mới rành còn tôi thì không biết ngả nào mà lần, và tôi thường đọc những cái tên trên bia mộ: Brower, Cadwallader, Andrews, Bates, Mitchell. Thương tiếc tưởng nhớ đến. Bé gái sơ sinh của. Người vợ yêu dấu của. Nghĩa trang rất rộng mà mộ thì nhiều vô kể, nếu chưa từng đến lần nào thì phải mất rất lâu mới định vị được một ngôi mộ nào đó. Nhưng tôi biết, theo cách tôi thường biết món gì ở trong những gói bọc giấy, rằng người đàn bà luống tuổi đã cho chúng tôi vào nhà và đã chăm sóc Cô Brown trong những ngày cô nằm bệnh cuối đời, đã đến nghĩa trang đều đặn, trút nước bẩn ra khỏi cái lon thiếc đặt lún sâu thấp hơn mặt lớp cỏ nơi chân mộ của cô, rồi thay bằng nước sạch từ một cái vòi nước gần đó, cắm những cành hoa bà mang theo sao cho vui mắt người sống và đôi mắt đã nhắm của người chết.