Showing posts with label Truyện dịch. Show all posts
Showing posts with label Truyện dịch. Show all posts

Saturday, June 7, 2025

THẦN CHẾT

 THẦN CHẾT

Nam Nguyen dịch .
Từ fb Tuấn Mai SG



— Ông có phải là thợ rèn không?
Một giọng nói bất ngờ vang lên sau lưng, làm cho thợ rèn giật mình. Ông cũng không nghe thấy có người mở cửa và đi vào trong.
— Bà đã bao giờ thử gõ cửa chưa? – ông trả lời thô, vừa trách mình vừa trách người khách quá nhanh nhẹn.
— Gõ cửa à? … Chưa thử, - giọng nói đáp lại.
Thợ rèn lấy khăn trên bàn, lau tay và từ từ quay lại, lúc đó đang nghĩ trong đầu sẽ trách mắng khách lạ như thế nào. Nhưng rồi mọi lời nói còn nguyên trong đầu vì trước mặt không phải là một vị khách bình thường.
— Ông có thể uốn lại cái lưỡi hái của tôi không? – giọng nói nữ khàn hỏi.
— Vậy là hết? Kết thúc? – thợ rèn thở dài và vứt khăn lau tay đi.
— Chưa hết, nhưng tệ hơn trước rất nhiều - Thần Chết đáp.
— Hợp lý - Thợ rèn đồng ý - không thể tranh cãi được. Giờ tôi phải làm gì?
— Uốn lại cái lưỡi hái - Thần Chết kiên trì nhắc lại.
— Và sau đó?
— Sau đó mài lại nếu được.
Thợ rèn nhìn chiếc lưỡi hái. Đúng vậy, trên lưỡi có mấy vết sứt mẻ, và hình dạng cũng như sóng rồi.
— Tôi hiểu rồi - ông gật đầu - còn tôi phải làm gì? Cầu nguyện hay đóng gói đồ đạc? Lần đầu, nên còn bỡ ngỡ…
— À… Ý ông là vậy - Thần Chết lắc đầu và mỉm cười - tôi đến đây không phải vì ông. Tôi chỉ cần sửa lại cái lưỡi hái. Ông làm được không?
— Vậy là tôi chưa chết? – thợ rèn hỏi, tay thì tự sờ lại người.
— Ông biết rõ hơn. Ông cảm thấy thế nào?
— Có lẽ là bình thường.
— Có buồn nôn, chóng mặt, đau đầu không?
— Không - thợ rèn không tự tin trả lời, đồng thơi lắng nghe cơ thể mình.
— Vậy thì ông không có gì phải lo - Thần Chết trả lời và đưa liềm cho ông.
Thợ rèn cầm nó bằng tay cứng đơ và bắt đầu xem kĩ hơn. Công việc này chỉ cần nửa tiếng, nhưng vì biết ai sẽ đứng sau lưng chờ, nên có lẽ phải mất ít nhất vài tiếng.
Thợ rèn từ từ bước đến cái đe và cầm lấy cây búa.
— Bà có thể ngồi xuống. Chẳng nhẽ cứ đứng mãi?! – thợ rèn đề nghị với giọng dễ chịu và mến khách.
Thần Chết gật đầu và ngồi lên ghế, dựa lưng vào tường.
Công việc đã gần xong rồi. Ông uốn cho lưỡi thẳng rồi, cầm đá mài và nhìn vị khách.
— Xin lỗi vì sự thẳng thắn, tôi không thể tin là tay tôi cầm thứ đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng! Không có vũ khí nào trên thế giới có thể so sánh với nó. Thực sự không thể tin nổi.
Thần Chết đang ngồi thoải mãi và nhìn nội thất trong xưởng bỗng dưng căng thẳng hơn. Đầu của vị khách từ từ quay về phía thợ rèn.
— Ông vừa nói gì? – vị khách hỏi nhỏ.
— Tôi nói là không tin là đang cầm vũ khí mà…
— Vũ khí? Ông nói vũ khí?
— Có lẽ tôi nói hơi quá, nhưng…
Thợ rèn chưa kịp nói xong. Thần Chết ngay lập tức đứng dậy và đã đứng trước mặt thợ rèn rồi.
— Ông nghĩ tôi đã giết bao nhiêu người? – khách hỏi.
— Tôi… Tôi không biết, - thợ rèn cố gắng trả lời và nhìn xuống.
— Trả lời đi! - Thần Chết cầm vào cằm ông và bắt nhìn thẳng - bao nhiêu?
— Tôi không biết…
— Bao nhiêu? – vị khách hét vào mặt thợ rèn.
— Làm sao tôi biết được? – thợ rèn cố gắng nhìn đi chỗ khác.
Thần Chết thả ông và im lặng vài giây. Sau đó quay lại chỗ ngồi và thở dài.
— Vậy là ông không biết bao nhiêu? Tôi sẽ nói cho ông là tôi chưa bao giờ, nghe rõ không? Tôi chưa từng giết ai. Ông nghĩ sao?
— Nhưng… Là sao?…
— Tôi chưa từng giết người. Tôi đâu cần làm điều đó, con người tự làm việc đó rất tốt mà?
Con người tự giết lẫn nhau. Con người! Con người có thể giết vì những tờ giấy, vì phẫn nộ và căm thù, thậm chí con người có thể giết chỉ để giải trí.
Còn khi con người thấy chưa đủ, họ bắt đầu chiến tranh và giết nhau hàng trăm, hàng nghìn. Con người thích. Con người phụ thuộc vào máu của người khác.
Và ông biết điều gì tệ nhất không?
Con người không thể tự thừa nhận điều đó!
Các người thà đổ hết lỗi cho tôi, - vị khách im lặng một lúc - ông có biết trước đây trông tôi thế nào không?
Tôi là một cô gái xinh đẹp, tôi đón tiếp các linh hồn với hoa và dẫn họ đến nơi họ thuộc về. Tôi mỉm cười với họ và giúp họ quên đi những gì đã xảy ra với họ. Đã lâu lắm rồi… Hãy nhìn tôi bây giờ!
Vị khách hét lên, đứng dậy và bỏ mũ trùm ra.
Trước mặt thợ rèn là một bà già mặt mũi nhăn nheo. Những sợi tóc bạc, môi khô, răng lệch. Nhưng đáng sợ nhất là đôi mắt. Đôi mắt vô hồn nhìn thợ rèn.
— Hãy nhìn xem tôi đã thay đổi thế nào! Ông biết vì sao không? – bà bước về phía thợ rèn.
— Không - ông lắc đầu.
— Tất nhiên là không biết rồi - bà nhếch mép - các người đã biến tôi thành như vậy!
Tôi đã chứng kiến người mẹ giết con, anh em giết nhau, tôi chứng kiến một người có thể giết 100, 200, 300 người khác chỉ trong một ngày!..
Tôi đã khóc khi nhìn thấy, tôi la hét vì không hiểu, vì bất lực, vì sợ hãi…
Đôi mắt của Thần Chết bắt đầu lấp lánh.
— Tôi đã thay chiếc váy xinh đẹp sang bộ đen tối này, để không rõ vết máu của những người mà tôi tiễn.
Tôi trùm mũ để họ không nhìn thấy tôi khóc.
Tôi không tặng hoa cho họ nữa. Con người đã biến tôi thành quái vật. Xong lại đổ hết lỗi cho tôi. Tất nhiên rồi, vì như thế là đơn giản nhất… - bà nhìn chằm chằm ông thợ rèn, - tôi chỉ tiễn, chỉ lối, tôi không giết người…
Hãy trả lại liềm của tôi, kẻ ngốc!
Thần Chết giật chiếc liềm, quay đi và bước về phía cửa.
— Tôi có thể hỏi thêm một câu không? – tiếng nói từ sau lưng.
— Ông muốn hỏi là vậy thì vì sao tôi luôn mang chiếc lưỡi hái này đúng không? – vị khách dừng lại trước cửa nhưng không ngoảnh mặt lại.
— Đúng vậy.
— Trên con đường đến thiên đàng… đã từ lâu cỏ mọc um tùm...

Sunday, December 22, 2024

𝗖𝗛𝗥𝗜𝗦𝗧𝗠𝗔𝗦 𝗚𝗜𝗙𝗧

𝗖𝗛𝗥𝗜𝗦𝗧𝗠𝗔𝗦 𝗚𝗜𝗙𝗧

Robert Turner
QUÀ GIÁNG SINH
Dịch giả : Vĩnh Bá


Không có tuyết và nhiệt độ thì ôn hòa ở mức 20°C, trong một số sân vườn gần đó, cây cối vẫn xanh tươi, những cây cọ cũng xanh, nhưng bạn vẫn biết đó là đêm áp lễ Giáng Sinh. Cửa các ngôi nhà dọc theo đường phố treo những vòng hoa, một số đang sáng đèn. Những bóng đèn đỏ, lục và xanh thắp sáng nhiều ô cửa sổ. Qua một số cửa sổ, ta có thể thấy những cây thông Giáng Sinh lấp lánh ánh đèn. Và tất nhiên, còn có tiếng nhạc phát ra từ một số ngôi nhà, những bài hát quen thuộc, 𝘞𝘩𝘪𝘵𝘦 𝘊𝘩𝘳𝘪𝘴𝘵𝘮𝘢𝘴, 𝘈𝘷𝘦 𝘔𝘢𝘳𝘪𝘢, 𝘚𝘪𝘭𝘦𝘯𝘵 𝘕𝘪𝘨𝘩𝘵.
Mọi sự lẽ ra phải tốt đẹp, bởi vì Giáng Sinh ở một thành phố của tiểu bang Florida cũng giống như Giáng Sinh ở bất cứ nơi nào khác, một khoảng thời gian tuyệt vời, một khoảng thời gian đầy yêu thương. Vẫn là tuyệt vời ngay cả khi bạn là một cảnh sát. Ngay cả khi bạn phải trực vào đêm áp lễ Giáng Sinh và không thể ở nhà với vợ con. Nhưng không nhất thiết là tuyệt vời nếu bạn đang cùng bốn cảnh sát khác phải bắt cho được một tên tù vượt ngục, hoặc có khả năng cao hơn là phải giết hắn vì hắn đang chịu án chung thân nhưng không chịu quay lại nhà tù.
Đi cùng xe với tôi là McKee, một thám tử Bậc Ba, chỉ mới được nâng bậc khỏi công việc tuần tra đường phố được vài tháng nay. Trẻ, mắt trong, má hồng. Kiểu chàng trai Mỹ điển hình và rất, rất nghiêm túc với nghề nghiệp. Như thế là tốt; một cảnh sát phải nên như vậy. Chúng tôi đậu xe cách khoảng bốn nhà tính từ ngôi nhà thuê nơi bà Bogen và ba đứa con đang sống.
Cùng khoảng cách đó ở phía bên kia ngôi nhà là một chiếc sedan, trong đó có Trung úy Mortell và Thám Tử Bậc Một Thrasher. Mortell là một người ở tuổi trung niên, miệng lưỡi chua cay, gầy như que củi, và hầu như không còn chút biểu cảm con người nào sót lại trong đôi mắt. Ông ta là người chỉ huy. Thrasher thì hơi mập, một cảnh sát bình thường.
Trên con đường phía sau nhà Bogen, là một chiếc xe tuần tra khác, trong xe là hai cảnh sát Bậc Một khác, một gã là Dodey và gã kia là Fischihan. Họ ở đó phòng trường hợp Earl Bogen thoát khỏi tay chúng tôi và chạy qua một số sân nhà đến dãy nhà khác. Tôi không nghĩ hắn sẽ làm được điều đó.
Sau một lúc, McKee nói: "Tôi không rõ ở miền Bắc tuyết có đang rơi không. Tôi cược là có." Anh ta đổi thế ngồi. "Không ra vẻ Giáng Sinh nếu không có tuyết. Giáng Sinh với đám cây cọ thì thật kỳ cục!"
"Giáng Sinh đầu tiên cũng đã là như thế," tôi nhắc anh ta.
Anh ta ngẫm nghĩ về điều đó. Rồi nói: "Phải. Phải. Đúng vậy. Nhưng tôi vẫn không thích thế."
Tôi định hỏi anh ta tại sao lại chọn đến sống ở miệt dưới này, thì sực nhớ đến mẹ anh ta. Bà ấy cần thứ khí hậu này; đó là thứ duy nhất giữ cho bà sống.
"Trung sĩ biết không," McKee nói tiếp. "Tôi nghĩ nãy giờ; cái gã Bogen này chắc hẳn điên rồi."
"Ý cậu là vì hắn còn tính người? Vì hắn muốn gặp vợ con vào dịp Giáng Sinh?"
"Chà, hắn thừa biết hắn có thể bị bắt. Hắn mà bị bắt thì càng khốn khó cho vợ con hắn, phải không? Tại sao hắn không thể gửi quà hay gì đó cho họ rồi gọi điện thoại cho họ sau? Hở?"
"Cậu chưa lập gia đình, phải không, McKee?"
"Chưa."
"Và cậu cũng chưa có con. Vậy thì tôi không thể trả lời câu hỏi đó cho cậu được."
"Tôi vẫn nghĩ hắn ta điên rồi."
Tôi không trả lời. Tôi đang nghĩ làm thế nào để truy lùng tên chỉ điểm thối tha đã mách cho chúng tôi về việc Earl Bogen sẽ về thăm nhà vào dịp Giáng Sinh, sẽ truy lùng hắn suốt cả năm tới đây, và truy lùng cho khéo để khỏi vướng vào rắc rối. Đối với tôi, đó là một con chuột thật sự, một kẻ đã chỉ điểm những chuyện như thế. Tôi sẽ khiến hắn phải khổ sở cho dù tôi có phải trả giá.
Rồi tôi nghĩ về điều Trung úy Mortell đã nói với tôi một giờ trước. "Tim này," ông nói. "Tôi e rằng anh không phải là một cảnh sát giỏi. Anh quá đa cảm. Giờ đây anh phải biết một cảnh sát không nên đa cảm. Bogen có đa cảm không, khi hắn làm tàn phế suốt đời người quản lý công ty tài chính trong vụ cướp gần đây nhất của hắn? Hắn có lo lắng gì cho vợ con của người đó không? Đừng ngu ngốc nữa, được không, Tim?"
Đó là câu trả lời cho đề xuất của tôi là cứ để cho Earl Bogen vào gặp gia đình, cho hắn đón Giáng Sinh rồi bắt hắn khi hắn ra khỏi nhà. Tôi nói: chúng ta có mất gì đâu, hãy cho hắn một cơ hội. Tất nhiên, tôi đã biết Mortell sẽ không đồng ý, nhưng dù sao tôi vẫn phải thử đề nghị. Mặc dù tôi biết trung úy Mortell cũng nghĩ như tôi—rằng khi đến lúc Bogen ra đi, thì việc bắt hắn có thể sẽ khó gấp đôi.
Giọng nói trẻ trung và buồn nản của McKee cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi: "Anh có nghĩ hắn sẽ mang vũ khí không? Thằng Bogen ấy."
"Tôi nghĩ vậy."
"Tôi mừng là Mortell đã bảo chúng ta không được mạo hiểm với hắn, rằng chỉ cần hắn có động thái định rút súng, chúng ta sẽ bắn hạ hắn. Ông ấy là một cảnh sát già dày dạn, Mortell ấy."
“Người ta vẫn nói vậy. Nhưng cậu đã bao giờ nhìn vào mắt ông ta chưa?"
"Mắt ông ấy thì sao?" McKee hỏi.
"Thôi bỏ qua," tôi nói. "Một chiếc xe buýt đã dừng lại kia kìa."
Chúng tôi biết Earl Bogen không có xe hơi; chúng tôi không tin hắn sẽ thuê xe hoặc đi taxi. Ai cũng nghĩ hắn đang túng thiếu. Một chiếc xe buýt từ trung tâm thành phố dừng lại ở góc đường. Khi hắn đến, rất có thể hắn sẽ đi xe buýt đó. Nhưng hắn không có mặt trên chuyến này. Chỉ có một người phụ nữ xuống xe và rẽ vào Đại Lộ. Tôi thở dài nhẹ nhõm và nhìn vào mặt đồng hồ dạ quang. Mười giờ năm mươi. Một giờ mười phút nữa thì chúng tôi sẽ được thay ca; vụ việc sẽ không xảy ra trong ca trực của chúng tôi. Tôi hy vọng sẽ như vậy. Điều đó là có thể. Tên chỉ điểm có thể đã sai về toàn bộ chuyện này. Hoặc có thể đã xảy ra điều gì đó khiến kế hoạch của Bogen thay đổi, hoặc ít nhất là hoãn chuyến thăm của hắn sang ngày hôm sau. Tôi dựa lưng vào ghế đợi chuyến xe buýt tiếp theo.
McKee hỏi: "Trung sĩ đã từng giết ai chưa?"
"Chưa," tôi đáp. "Tôi chưa bao giờ phải làm vậy. Nhưng tôi đã có mặt khi người khác làm thế."
"Thế ư? Cảm giác thế nào?" Giọng McKee nhuốm chút hào hứng. "Ý tôi là hỏi về người nổ súng ấy? Anh ta cảm thấy thế nào về việc đó?"
"Tôi không biết. Tôi không hỏi anh ta. Nhưng tôi sẽ cho cậu biết anh ta trông ra sao. Anh ta trông như thể sắp nôn mửa, như thể đáng lẽ phải nôn mà không nôn được."
"Ồ," giọng McKee có vẻ thất vọng.
"Còn người bị bắn thì sao? Hắn ta đã làm gì? Tôi chưa bao giờ thấy ai bị bắn cả."
"Hắn ta ư?" tôi nói. "Ồ, hắn thét lên."
"Thét lên ư?"
"Ừ. Cậu đã bao giờ nghe tiếng thét của một đứa trẻ khi bị cánh cửa đóng ập vào ngón tay chưa? Hắn ta hét lên như vậy đấy. Hắn bị bắn vào háng."
"Ồ, tôi hiểu rồi," nhưng giọng McKee không có vẻ gì là cậu ta đã thực sự hiểu. Tôi nghĩ rằng McKee sẽ trở thành kiểu người được gọi là một cảnh sát giỏi—một anh chàng tốt bụng, tỉnh táo và hoàn toàn vô cảm. Đây là lần thứ một triệu, tôi tự nhủ rằng mình nên ra khỏi ngành. Không phải sau ca trực tối nay, không phải tháng sau, tuần sau hay ngày mai, mà ngay bây giờ. Đó sẽ là món quà Giáng Sinh tuyệt vời nhất trên đời mà tôi có thể tặng cho bản thân và gia đình. Và đồng thời tôi biết mình sẽ không bao giờ làm được điều đó. Tôi không biết chính xác tại sao. Sợ không thể kiếm sống khi ra khỏi ngành; sợ sẽ trở thành gánh nặng cho mọi người khi về già như cha tôi đã từng—đó là một số lý do nhưng không phải là tất cả. Nếu tôi nói rằng làm cảnh sát quá lâu khiến nó thấm vào máu bất kể bạn ghét nó thế nào, thì nghe có vẻ giả tạo. Và nghe sẽ còn tệ hơn nếu tôi nêu một lý do khiến tôi vẫn ở lại trong ngành là hy vọng có thể bù đắp cho một số người khác, rằng đôi khi tôi có thể làm điều gì đó tốt đẹp.
"Nếu tôi mà bắn Bogen," McKee nói, "hắn sẽ không thét lên đâu."
"Tại sao không?"
"Anh biết cách bắn của tôi rồi mà. Ở cự ly gần như vậy, tôi sẽ bắn thẳng vào mắt hắn."
"Chắc chắn cậu sẽ làm vậy. Chỉ có điều cậu sẽ không có cơ hội. Chúng ta sẽ tóm hắn, một cách yên lặng. Chúng ta không muốn có tiếng súng nào trong khu dân cư như thế này vào đêm áp lễ Giáng Sinh."
Rồi chúng tôi thấy ánh đèn của chuyến xe buýt tiếp theo ở góc phố. Một ông và một bà xuống xe. Người phụ nữ rẽ vào Đại Lộ. Người đàn ông, cao trung bình nhưng rất gầy, hai tay ôm nhiều gói đồ, bắt đầu đi dọc theo đường.
"Hắn đến kia," tôi nói. "Ra khỏi xe, McKee."
Chúng tôi cùng xuống xe, mỗi người một bên. Người đàn ông đang từ góc đường đi về phía chúng tôi không thể thấy được chúng tôi. Con đường tối âm u vì những hàng cây thông Úc trồng dọc lối đi.
"McKee," tôi nói. "Cậu biết mệnh lệnh là gì rồi đấy. Khi chúng ta tiếp cận hắn, Thrasher sẽ đến gần Bogen trước và dí súng vào lưng hắn. Sau đó cậu chộp lấy hai tay hắn và nhanh chóng còng lại. Tôi sẽ đứng sau vài bước để yểm trợ cho cậu. Mortell sẽ đứng sau Thrasher để yểm trợ cho anh ấy. Cậu hiểu rồi chứ?"
"Rồi," McKee nói.
Chúng tôi tiếp tục bước đi, lúc đầu hơi nhanh, sau đó chậm lại, để có thể tiếp cận Bogen đang đi về phía chúng tôi, sao cho đúng lúc, nghĩa là khi hắn đã đi quá vị trí xe của Mortell và Thrasher, nhưng vẫn chưa đến được ngôi nhà nơi gia đình hắn đang ở.
Khi chúng tôi chỉ còn cách Bogen vài thước, hắn đi qua một khoảng trống, nơi ánh trăng lưỡi liềm xuyên qua các cành cây. Bogen không đội mũ, chỉ mặc áo khoác thể thao, áo sơ mi và quần dài. Hắn đang mang chừng sáu gói hàng, không gói nào quá lớn nhưng tất cả đều được bọc bằng giấy màu sặc sỡ, giấy bạc và ruy-băng. Tóc Bogen cắt ngắn kiểu đầu đinh, chứ không dài như trong ảnh trong hồ sơ cảnh sát, và hắn đã để ria mép; nhưng tất cả những điều đó chẳng che giấu được bao nhiêu.
Ngay lúc đó hắn nhìn thấy chúng tôi và bước chân tỏ ra do dự. Rồi hắn dừng lại. Thrasher, đi ngay sau lưng hắn, suýt va vào hắn. Tôi nghe giọng ồm ồm của Thrasher: "Bỏ những gói đồ xuống và giơ tay lên, Bogen. Ngay lập tức!"
Hắn thả rơi các gói đồ. Chúng rơi lăn lóc quanh chân hắn trên vỉa hè và hai gói bị rách toạc. Một chiếc xe đua đồ chơi lộ ra trong một gói. Nó vẫn còn được lên dây cót một chút vì khi nó bung ra khỏi gói, cái động cơ nhỏ kêu rù rì và chiếc xe đồ chơi tí hon phóng qua vỉa hè chừng hai ba bước. Từ một gói khác, một con búp bê nhỏ rơi ra, nằm ngửa trên vỉa hè, đôi mắt to được tô màu nhìn lên trời. Tôi nghĩ đó là loại búp bê được gọi là búp bê đẹp như tranh; dù sao, nó được mặc áo cô dâu. Từ một trong những gói khác, một thứ chất lỏng bắt đầu rỉ ra vỉa hè và tôi đoán đó là một chai rượu vang Giáng Sinh dành cho Bogen và vợ hắn.
Nhưng khi thả rơi các gói đồ, Bogen không giơ tay lên. Hắn quay ngoắt lại và tiếng khuỷu tay hắn đập vào mặt Thrasher nghe thật ghê rợn. Sau đó tôi nghe tiếng súng của Thrasher khi ông bóp cò theo phản xạ, nhưng tia chớp từ nòng súng của ông thì hướng lên trời.
Tôi nâng súng lên ngay khi Bogen thò tay vào trong áo khoác nhưng tôi chưa kịp bắn thì McKee đã nổ súng. Đầu Bogen bật ngửa ra sau như thể ai đó vừa đấm vào cằm hắn bằng gót bàn tay. Hắn loạng choạng lùi lại, xoay người và ngã xuống.
Tôi cầm đèn pin đi tới chỗ Bogen. Viên đạn do McKee bắn đã xuyên vào mắt phải của Bogen và giờ đây ở đó chỉ còn một lỗ hổng ghê rợn. Không thể cưỡng lại được, tôi lia ánh đèn pin chỉ trong thoáng chốc vào mặt McKee. Thằng nhóc trông tái nhợt nhưng mắt thì sáng lên vì phấn khích và cậu ta không hề có vẻ buồn nôn chút nào. Cậu ta cứ liếm môi, một cách lo lắng. Cậu ta cứ nói mãi: "Hắn chết rồi. Giờ anh không cần phải lo lắng về hắn nữa. Hắn chết rồi."
Đèn nơi cửa trước của các ngôi nhà gần đó bật sáng và người ta túa ra. Mortell la lớn: "Hãy vào nhà đi. Không có gì để xem cả. Việc của cảnh sát. Vào nhà đi."
Tất nhiên, hầu hết bọn họ không tuân lệnh. Họ đến và nhìn, mặc dù chúng tôi không cho họ đến gần thi thể. Thrasher báo cáo qua máy bộ đàm cho Sở chỉ huy. Mortell bảo tôi: "Tim, hãy đi báo cho vợ hắn. Và bảo bà ấy phải xuống đây để nhận dạng lần cuối cho chúng ta."
"Tôi ư?" tôi nói. "Sao anh không cử McKee đi? Cậu ta không phải típ người nhạy cảm. Hoặc sao anh không tự đi? Dù sao thì toàn bộ kế hoạch nhỏ bé khéo léo này cũng là ý tưởng của anh, Trung úy nhớ chứ?"
"Anh đang chống lệnh đấy hả?"
Rồi tôi nghĩ ra một điều. "Không dám," tôi nói. "Không sao. Tôi sẽ đi."
Tôi rời khỏi họ và đi đến ngôi nhà nơi vợ con Bogen đang sống. Khi bà ấy mở cửa, tôi có thể nhìn vào phòng khách được bày trí đơn giản, rẻ tiền, nhưng lúc này trông không rẻ tiền nữa, nhờ ánh sáng từ cây thông được trang trí. Tôi có thể thấy những món quà được đặt ngay ngắn quanh cây thông. Và nhìn qua góc phòng ngủ, tôi thấy đôi mắt to đầy e dè của một bé gái khoảng sáu tuổi và một bé trai lớn hơn chừng hai tuổi.
Bà Bogen có vẻ hơi sợ hãi khi thấy tôi đứng đó. "Vâng? Có chuyện gì vậy?"
Tôi liền nghĩ đến các tờ báo. Tôi nghĩ: "Có gì phải ngại? Dù sao ngày mai vụ việc cũng sẽ lên báo." Rồi tôi nhớ ra rằng ngày mai là Giáng Sinh, sẽ không có tờ báo nào được phát hành, và hiếm ai bận tâm đến việc bật radio hay ti-vi.
"Đừng lo lắng," tôi nói với bà ấy. "Tôi chỉ đi thông báo cho mọi người trong khu phố biết chuyện gì vừa xảy ra. Chúng tôi đã bắt quả tang một tên trộm đang hành sự, thưa bà, và hắn chạy theo đường này. Chúng tôi đuổi kịp hắn ở đây và phải bắn hắn. Nhưng mọi chuyện đã xong rồi. Chúng tôi không muốn ai ra ngoài, gây thêm xáo trộn, vậy xin hãy đi ngủ lại, được không ạ?"
Miệng và mắt bà mở to. "Ai—ai vậy?" giọng bà rất khẽ.
"Chẳng phải ai quan trọng," tôi nói. "Chỉ là một tên côn đồ trẻ tuổi."
"Ồ," bà nói và tôi có thể thấy sự nhẹ nhõm hiện lên trên mặt bà và lúc đó tôi biết linh cảm của mình đã đúng: Bogen đã không cho bà biết hắn sẽ đến; hắn muốn gây bất ngờ cho bà. Nếu không vậy thì hẳn bà đã đoán ra ngay sự việc.
Tôi chúc bà ngủ ngon rồi quay đi, nghe tiếng bà khẽ đóng cửa sau lưng tôi.
Khi tôi quay lại gặp Mortell, tôi nói: "Tội nghiệp Bogen. Hắn đã tự chui vào bẫy một cách vô ích. Gia đình hắn thậm chí không có ở nhà. Tôi đã hỏi một bà hàng xóm và bà ta nói mấy mẹ con đã đi đến nhà mẹ của bà Bogen và sau Giáng Sinh họ mới về."
"Ồ, thật bất ngờ," Mortell nói, nhìn những người từ xe cứu thương của nhà xác đang đưa Bogen lên cáng.
"Đúng vậy," tôi nói. Tôi tự hỏi Mortell sẽ làm gì với tôi khi ông biết điều tôi đã làm, mà thế nào rồi ông cũng biết. Lúc ấy tôi không bận tâm lắm. Điều quan trọng là bà Bogen và những đứa trẻ được vui lễ Giáng Sinh như đã dự định. Ngay cả khi tôi quay lại vào ngày mốt để báo cho bà ấy biết chuyện gì đã xảy ra, thì cũng sẽ không làm mất đi niềm vui ấy.
Có thể những gì tôi đã đem đến cho họ không nhiều nhặn gì, nhưng nó cũng là một điều gì đó giúp tôi cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút. Không nhiều, nhưng cũng có đôi chút.

Thursday, January 4, 2024

𝗕𝗔 𝗣𝗛𝗔́𝗧 𝗠𝗜𝗡𝗛 𝗤𝗨𝗔́𝗜 𝗗𝗜̣ - 𝟯 𝗙𝗨𝗡𝗩𝗘𝗡𝗧𝗜𝗢𝗡𝗦 - Abdón Ubidia



Mời các bạn đọc ba câu chuyện nhỏ của nhà văn Tây Ban Nha Abdón Ubidia, trích từ tạp chí 𝗔𝗟𝗙𝗥𝗘𝗗 𝗛𝗜𝗧𝗖𝗛𝗖𝗢𝗖𝗞 𝗠𝗬𝗦𝗧𝗘𝗥𝗬 𝗠𝗔𝗚𝗔𝗭𝗜𝗡𝗘, số tháng 11, năm 2010, do Nathan Horowitz dịch sang tiếng Anh. (Vĩnh Bá dịch từ bản tiếng Anh)

-----------------------
𝗕𝗔 𝗣𝗛𝗔́𝗧 𝗠𝗜𝗡𝗛 𝗤𝗨𝗔́𝗜 𝗗𝗜̣
𝟯 𝗙𝗨𝗡𝗩𝗘𝗡𝗧𝗜𝗢𝗡𝗦
Abdón Ubidia
ĐỒNG HỒ ĐEO TAY
Khi những cái đồng hồ đeo tay kĩ thuật số đầu tiên xuất hiện, tôi mua ngay một chiếc ở tiệm của ông Hans Maurer. Vừa sở hữu nó thì tôi hiểu ra tầm quan trọng của quyết định của mình. Tôi không hề ngạc nhiên bởi sự vắng mặt của những cái bánh răng nhỏ xíu, núm lên dây cót, và lò xo. Tôi không hề ngạc nhiên bởi dòng điện đi qua những mê cung của mạch tích hợp và các tinh thể thạch anh, hoặc bởi sự mất đi tiếng tích tắc, mà qua nhiều thế kỉ đã là tiếng nhạc đích thực của thời gian.
Tôi ngạc nhiên bởi cái màn hình bé nhỏ đã thay thế cái mặt số đồng hồ.
Tôi giải thích cho ông Maurer nhăn nheo, bí ẩn và kiệm lời:
“Cái vòng tròn có khắc dấu khiến chúng ta nghĩ đến một khái niệm về một thế giới đang che chở, và về một phương diện nào đó, một khái niệm về hạnh phúc: Thời gian đi vòng mãi không dứt. Mỗi kết thúc là một khởi đầu mới. Không có sự gián đoạn giữa đi và đến. Quá khứ, hiện tại, và thậm chí cả tương lai phô bày trước mắt chúng ta theo một sự kế tục hình tròn. Những cây kim bé nhỏ, với những bước như kiến bò, từ bỏ cái không còn tồn tại, và tiếp tục theo đuổi cái tất yếu sẽ đến. Ông có thể thấy con đường đi và chỉ ra được sự quay về của mình. Khi ông thấy những chiếc kim đồng hồ, ông có thể tự nhủ rằng những ngày sẽ luôn tự lập lại với những buổi sáng và những đêm tối. Rằng những chu kì ấy tồn tại. Rằng chúng ta lập lại chính mình ở nơi con cái như cha mẹ chúng ta lập lại chính họ ở nơi chúng ta. Rằng chúng ta mãi mãi tồn tại.
“Rồi bỗng nhiên, xuất hiện cái màn hình kĩ thuật số quái quỉ làm thay đổi cục diện. Những con số xuất hiện đánh dấu cái hiện tại chính xác. Mỗi thời khắc tách biệt hẳn với thời khắc trước đó. Những con số xuất hiện rồi chìm vào hư vô không để lại dấu vết. Không có sự kế tục, chỉ có sự thay thế. Thời gian dường như mở toang. Nó đã mất đi con đường vòng của nó; nó thiếu mất những giới hạn. Nó hầu như không còn là một hiện tại tức khắc. Tương lai là một sa mạc trắng xóa và đông cứng. Quá khứ thì tan biến. Quá khứ là một hố thẳm trắng xóa mở toang, rồi, cứ mỗi bước chúng ta bước tới, quá khứ lại tan đi sau gót chân ta. Tôi không biết những người khác có thấy những gì tôi đang thấy hay không: một nỗi cô đơn bất tận. Bị từ bỏ. Hứng chịu mọi tổn thương. Những cái đồng hồ này ra đời để dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta là những kẻ mồ côi. Cái bàn tròn vĩ đại, mà đã kết nối nhiều thứ, nay đã không còn.
Hans Maurer mỉm cười. Nhưng tôi nhất mực nói tiếp:
“Có thể rằng mỗi thời đại phát minh ra những công cụ để tự đo lường. Có thể rằng mỗi kỉ nguyên chọn lựa cách riêng để tự hiểu mình, theo những gì thích hợp với nó. Dạng bánh răng và mặt số hình tròn, và bộ máy của những đồng hồ cơ học với trục quay bắt buộc của chúng khi ấy sẽ không phải là một sự kiện ngẫu nhiên hay là kết quả của một nhu cầu thuần túy vật lí. Khi ấy nó sẽ là, ngoài những điều tôi đã nói trên, sự kết thúc cuộc tìm kiếm một trung tâm của trật tự, một ý nghĩa trung tâm biết sắp đặt mọi sự vật đúng chỗ chung quanh nó.
"Vậy thì, tôi e rằng, và tôi không hổ thẹn để thú nhận, những cái đồng hồ kĩ thuật số, ngoài việc đo lường thời gian, cũng đang đo lường một lục địa khác, mà tôi không hiểu lắm. Có lẽ đó là một sa mạc trắng xóa, trống rỗng, không có trung tâm và vô nghĩa.”
Thỉnh thoảng tôi ghé tiệm của ông Maurer vào buổi chiều, dù hai chúng tôi không hạp nhau. Tôi xem kĩ các kiểu đồng hồ ông ta chỉ cho tôi xem. Còn đâu cái niềm hi vọng muốn thấy cái gì đó khác biệt về chất lượng để thay cho cái đồng hồ kĩ thuật số ông ta đã bán cho tôi.
Mới đây, ông Maurer chơi xỏ tôi một vố bẩn: Ông ta đề nghị bán cho tôi cái đồng hồ duy nhất mà tôi không muốn. Một con quỉ hiểm ác nào đó mới phát minh ra cách đây không lâu. Có lẽ đây là dấu hiệu ngày suy tàn của chính thời gian đang đến gần. Cái đồng hồ này được trang bị những cảm biến để phát hiện những dấu hiệu sinh tồn của người đeo nó. Vì thế nó thực sự có kim. Nhưng những cây kim này chạy ngược chiều. Và chúng tăng tốc khi cái chết của chủ nhân đến gần.
Nụ cười của Maurer nở ra như một cái hố đen trên bộ mặt trắng bệch của ông ta khi ông ta đưa nó cho tôi.
Nhưng giữa cái nỗi kinh hoàng tế nhị hơn và thuộc về tâm lí hơn mà đang lặng lẽ đập đều nhịp trong cái đồng hồ kĩ thuật số của tôi, và cái đồng hồ kia, nặng mùi vật lí, thì tôi không biết chọn cái nào.
NHẠC VÔ THANH
The End (Kết Thúc), một trong những phòng hòa nhạc nơi âm nhạc vô thanh được trình diễn, thì không lớn và cũng không sang trọng. Một số người nói nó giống giảng đường của một trường trung học tỉnh lẻ hơn. Nhưng công chúng của nó thì trung thành và đôi khi cuồng tín. Các buổi diễn bắt đầu lúc 8 giờ tối và kéo dài hai hoặc ba giờ.
Sau đó diễn ra những tranh luận nẩy lửa chia khán giả thành những phe thù địch.
Mỗi buổi hòa nhạc diễn ra như thế này. Các nhạc công ngồi vào chỗ, nhạc trưởng bước tới bục chỉ huy rồi cúi chào, và khán giả cho phép mình bị mê hoặc bởi những chuyển động của cái gậy chỉ huy của nhạc trưởng. Không một nhạc công nào có nhạc cụ, mặc dù lúc ban đầu, nhiều năm về trước, họ làm bộ như đang chơi nhạc cụ. Giờ đây họ chỉ tự giới hạn vào hành động giở bản tổng phổ và theo dõi bằng mắt một số khoen tròn đánh dấu dọc theo một đường kẽ màu đen duy nhất, giống như những giọt mưa bám trên đường dây điện thoại. Những bản dàn bè này là những hướng dẫn không đáng tin cậy bởi vì sau vài phút, đèn mờ dần, và phần còn lại của buổi hòa nhạc diễn ra trong bóng tối. Bằng cách này, mỗi khán giả biết rằng sự tập trung chú ý của mình sẽ là tuyệt đối, và có thể tưởng tượng hết sức rõ ràng những âm thanh mà dàn nhạc đang gợi ý.
Khi buổi diễn kết thúc, đèn bật sáng, khẳng định với khán giả rằng những gì đã kết thúc trong tâm trí họ thì cũng đã kết thúc trong toàn bộ thính phòng.
Những buổi hòa nhạc này đã bị tố cáo với cảnh sát. Một nhân viên điều tra đã qui kết rằng những người tổ chức thuộc về một giáo phái đang quyết tâm xóa bỏ hoàn toàn nền âm nhạc phương Tây mà họ xem là độc tài chuyên chế và chịu trách nhiệm về sự biến mất của những loại âm nhạc khác của thế giới—loại âm nhạc không được ghi âm, man dại, âm nhạc của những nền văn hóa đã chìm sâu xuống biển thời gian.
Nhưng không một khán giả nào của The End tin vào những qui kết ấy hoặc tin rằng những nhạc công tài ba hiền lành và ông nhạc trưởng uể oải của họ có liên hệ với những kẻ cực đoan mà người ta biết là những kẻ phải chịu trách nhiệm về, ngoài nhiều điều khác nữa, sự đánh cắp cây phong cầm của Thánh Đường Thánh Thomas, về vụ ám sát nhạc trưởng Herbert Von Karajan (luộc chín trong vạc dầu hạt lanh) và về vụ kích nổ một quả bom nguyên tử nhỏ trong những phòng thu âm của hàng đĩa nổi tiếng của nước Đức là Deutsche Grammaphon.
AN NINH XE HƠI
Hệ thống hoạt động như sau. Khi tên trộm vào được trong xe—việc này tự nó không khó—và ngồi sau tay lái, một cơ chế điện tử khóa hết cửa lên xuống và cửa sổ. Động tác này có thể im lặng hoặc không.
Bước thứ hai diễn ra khi kẻ đột nhập cố khởi động máy. Đúng lúc này một ngọn đèn đỏ bắt đầu nhấp nháy trên mặt bảng điều khiển, và một giọng nói thu âm sẵn lặp lại ba lần cách nhau mỗi 30 giây, “Không còn lối thoát.” Người ta đã chứng minh rằng lặp lại ba lần là đủ vì sau khi cố khởi động xe nhiều lần, kẻ trộm khi ấy sẽ tìm cách thoát thân. Nhưng mọi cửa đã khóa chặt cả rồi.
Đây chính là lúc một cái kim tiêm nhô lên khỏi mặt ghế và tiêm vào một món bào chế đặc biệt làm tê liệt hai cẳng chân và dây thanh âm của kẻ trộm. Người ta nhận thấy trong một tỉ lệ rất cao các trường hợp này, tên trộm, dưới ảnh hưởng của thứ thuốc này, tin rằng hắn đang trải nghiệm một cơn ác mộng. Để đính chính sự ngộ nhận này, một giọng nói thu âm sẵn giải thích cho hắn những chi tiết về những gì sắp xảy ra. Rồi thì tất cả đã sẵn sàng cho bước cuối cùng, mà, đáng tiếc thay, không dễ chịu chút nào, nhưng chắc chắn là rất cần thiết.
Ghế tài xế trượt sang bên phải (sang trái nếu là xe bên Anh), để lộ ra một hệ thống gồm các pít-tông và bánh răng bắt đầu xay nát tên trộm thật nhuyễn, nén chặt hắn lại, rồi hòa tan hắn trong một dung dịch a-xít không mùi rất mạnh mà thành phần cấu tạo là bí mật của nhà sản xuất. Rồi ghế lái trở về vị trí cũ, thế nên khi chính chủ vào xe nổ máy, chủ xe sẽ không tìm thấy dấu vết gì của những gì đã xảy ra.
Nhà sản xuất cam kết rằng chỉ có một phần trăm trường hợp cơ chế này sẽ nhầm chủ xe là kẻ trộm.
— HẾT —

Saturday, April 1, 2023

CÁI QUYẾT ĐỊNH SINH TỬ - 𝗧𝗛𝗘 𝗗𝗘𝗖𝗜𝗦𝗜𝗢𝗡 - Tom Burnam

CÁI QUYẾT ĐỊNH SINH TỬ

𝗧𝗛𝗘 𝗗𝗘𝗖𝗜𝗦𝗜𝗢𝗡
Tom Burnam
Bản dịch : Vĩnh Bá.
“Chỗ này trông đẹp đây,” Mira Bagley nói khấp khởi hi vọng. Cô cảm thấy mệt, còn thằng bé Kit thì gắt gỏng; chuyến đi xe quá lâu và nhiều bụi bặm.
“Ờ, anh cũng không biết nữa,” chồng cô nói, giảm tốc độ khi họ quan sát đồng cỏ trước mặt. “Có lẽ chúng ta không được phép cắm trại ở đó.”
“Trời ạ, chúng ta đang ở bang Montana,” Myra nói. “Người ta nói chúng ta có thể cắm trại bất kỳ nơi đâu không có biển cấm. Anh cũng biết thế mà.” Cô không có ý gắt gỏng như thế.
“Chúng ta sẽ tung một đồng xu để quyết định,” John Bagley nói, nhưng thằng bé Kit liền than vãn, “Ôi, ba quyết định đi chứ.”
John mím môi và nhấn ga; và mặc dù trời đã về chiều, Mira vẫn muốn nói, “Kit, im lặng đi!”
Rồi một phép lạ xảy ra. Đi thêm một dặm nữa, qua khỏi đoạn đường cong, là biển báo của Cục Kiểm Lâm “Khu Cắm Trại Phía Trước”, rồi thêm một tấm biển hình tam giác vẽ một mũi tên chỉ xuống một con đường hẹp ngoằn ngoèo dẫn từ xa lộ tới bờ của một dòng suối ở phía dưới.
John lái xe chậm lại.
“Chỗ này được chưa?” anh hỏi. Myra mím môi không trả lời. Từ lâu cô đã quyết định rằng lấy một nhà khoa học làm chồng thực là rắc rối vì rằng mọi việc phải có tính khoa học. Trước hết là Giả Thuyết: Khu cắm trại này có hợp với chúng ta không. Tiếp theo là Xem Xét Các Dữ Kiện: Có nước không? Có nhiều rắn độc không? Có đầy đủ những tiện nghi vệ sinh không? Triền dốc có thoát nước tốt khi trời mưa không?
Đôi khi cô phản đối khi họ đang định mua một chiếc xe hơi mới (chiếc này có hệ truyền động rất tốt, anh nói, nhưng chiếc kia thì có hệ thống phanh tốt hơn) hoặc đồ nội thất mới (mút xốp có mau xẹp không) hay thậm chí là một cái dao mở lon cho nhà bếp (người tiêu dùng nói loại dao này làm rơi mạt sắt vào trong lon xúp). Rồi sau đó John im lặng có vẻ phật ý sau khi chỉ ra rằng anh được đào tạo để nghĩ đến tất cả mọi khía cạnh của một vấn đề trước khi đưa ra một quyết định.
Nhưng đây là lần đầu tiên cô không có lý do gì để mà hốt hoảng. “Chúng ta sẽ cắm trại ở đây,” John nói; Myra và Kit thở phào nhẹ nhõm.
Về phía hạ lưu tính từ chỗ cắm trại của gia đình Bagley, mặc dù ở phía bên kia của con suối rộng, có một khối đá khổng lồ, từ ngàn xưa, đã chễm chệ trên đỉnh một hẽm núi hẹp mà ở dưới chân vách núi này là một đường tàu hỏa. Đội lái tàu đôi khi dùng khối đá này như là một cột mốc không chính thức: “Tảng đá kia rồi. Hôm nay trễ mất hai phút.”
Gần vị trí nơi khối đá chênh vênh bên trên đường ray là một đường nứt nhỏ. Qua nhiều năm tháng, đường nứt này đã khiến khối đá trượt đi một chút rồi sau đó yên vị, nên giờ đây nó nghiêng thêm một chút về phía đoạn đường ray dưới kia xa khoảng 60 feet (18m). Không ai trong các đội lái tàu nhận biết sự gia tăng khó thấy nơi góc nghiêng của khối đá; và chắc chắn không ai trong số họ biết rằng khối đá đang ở vị trí rất bấp bênh, thế nên đường nứt chỉ dịch chuyển thêm một chút nữa thôi—quả thực, có lẽ chỉ cần một sự rung động vừa đủ do một chiếc xe tải chạy trên đường cao tốc hoặc một đầu máy trên đường ray—có thể khiến khối đá đổ ầm xuống.
Tại những địa điểm như hẽm núi hẹp này nơi có khối đá, công ty đường sắt đã duy trì những hàng rào bảo vệ; bất kỳ đất sụt hay đá vỡ nào lăn xuống cũng sẽ làm đứt một hoặc nhiều dây dẫn điện, khi ấy những thiết bị cảnh báo sẽ được kích hoạt. Khoảng một hoặc hai giờ trước khi gia đình Bagley tìm được địa điểm cắm trại, một thằng bé sống tại một nông trại hẻo lánh gần đó giương khẩu súng trường 5,6mm mới sắm, nhắm vào một cái trụ sứ cách điện ở trên đầu hàng rào điện. Viên đạn bắn vỡ trụ sứ cách điện nhưng không làm đứt dây điện, sợi dây chỉ võng xuống mấy phân thôi nên mạch điện không bị gián đoạn.
“Ngày mai chúng ta đừng nên đi tiếp quá nhanh,” Myra nói sau khi họ đã dựng xong cái lều hình dù còn Kit dựng xong cái lều tam giác của riêng nó ở bên cạnh. “Em thấm mệt rồi.”
“Nhưng—” John định nói gì đó. Rồi anh nhe răng cười. “Hợp ý anh đấy,” anh nói. “Anh cũng mệt. Và có lẽ ngày mai Kit và anh có thể đi câu cá đôi chút. Địa điểm này đẹp thật.”
Khu cắm trại này—họ hơi ngạc nhiên khi nhận thấy chỉ có họ một mình một cõi—nằm ở nơi khuất lánh so với xa lộ. Ngay bên cạnh là một con suối rộng cuồn cuộn chảy qua hẽm núi; ở bờ bên kia là đường tàu hỏa, và bên trên đường ray là khối đá lớn.
“Đi nào, con trai,” John nói sáng hôm sau. “Ta hãy qua cầu xem có kiếm được con cá hồi nào không.”
Cầu làm bằng những thân gỗ lớn cổ xưa; hồi trước dành cho xe tải chở gỗ sử dụng nhưng bây giờ đã gắn biển “Không An Toàn Cho Xe Qua Cầu.”
“Cẩn thận,” Myra Bagley nói. “Coi chừng bị tàu hỏa cán đấy.”
“Ôi, là Mẹ,” Kit nói, nhưng nó biết mẹ nó nói đùa thôi, hoặc ít nhất cũng gần như là đùa.
Hai cha con lấy cần câu, lên đường.
“Tối qua ba có nghe tàu chạy ngang qua không, hở ba? Con tưởng chừng tàu đâm xuyên qua lều của con luôn.”
John Bagley nhăn mặt. “Ba nghĩ nó thực sự đâm xuyên qua lều của ba mẹ. Nó đã làm mẹ con thức giấc rất ngon lành.”
“Không sai,” Kit nói, hai cha con cùng nhe răng cười, chia sẻ niềm vui đàn ông trước cái cách mà tiếng ồn của đoàn tàu đã làm cho Mẹ hoảng sợ.
“Con chắc chắn đó là lý do chỉ có chúng ta chiếm trọn khu cắm trại. Có lẽ dân địa phương quanh đây đã quá quen với những chuyến tàu.”
“Có lẽ thế,” ba nó đồng ý.
Họ đã qua bờ bên kia. Chiếc cầu cũ dành cho xe tải đã bị rào chắn lại, mặc dù còn giữ lại một lối đi bộ, và một biển báo: “LƯU Ý, đây là tài sản của công ty đường sắt Montana & Pacific Railway. Giấy Phép Qua Cầu Có Thể Bị Thu Hồi Bất Kỳ Lúc Nào.”
“Như thế nghĩa là gì?” Kit nói.
“Nghĩa là công ty đường sắt không muốn để mất cái quyền ưu tiên hợp pháp của nó,” John nói.
“Ồ,” Kit nói, sẵn sàng chấp nhận lời giải thích của ba nó mặc dù nó không hoàn toàn hiểu hết. “Chúng ta có thể đi bộ trên đường ray không?”
“Ba nghĩ công ty đường sắt không cấm đâu,” ba nó cười lớn. “Đi như thế chắc chắn là dễ hơn phải leo lên leo xuống dọc bờ suối.”
“Ta hãy đi về phía khối đá lớn. Ba thấy đấy không? Hòn đá ngay bên trên đường ray, đằng ấy. Con chắc chắn ở đó có cá để câu.”
“Tại sao?”
“À,” Kit nói, “à, khối đá tạo một bóng râm trên mặt nước và 𝘵𝘳𝘰𝘶𝘵𝘴 tụ tập ở đó.”
“𝘛𝘳𝘰𝘶𝘵,” cha nó nói. “Số ít số nhiều không đổi.”
[𝘵𝘳𝘰𝘶𝘵 – cá hồi nước ngọt. Kit thêm “s” để diễn tả số nhiều, bị ba nó chỉnh lại.]
“O.K.,” Kit nói, nghĩ bụng quan trọng gì chuyện đó.
Hai cha con cùng đi ngược lên đường ray. Đoạn đường ray này chỉ thẳng một quãng ngắn, rồi ở cả hai đầu đường sắt uốn cong, men theo dạng chữ S của con suối và của hẽm núi.
“Ta nên nhìn đường cho kỹ,” Kit nói, cảm thấy tự hào là mình cũng biết cẩn thận như người lớn. “Nếu có đoàn tàu ầm ầm lao tới, ta sẽ không thấy nó đâu.”
John nhìn trước nhìn sau. Trước khi hai đầu đường ray uốn theo vách núi đá, người ta chỉ thấy một đoạn đường ngắn chừng một phần tư dặm. Anh mỉm cười với con trai. “Chúng ta sẽ nghe được tàu khá sớm trước khi tàu tới,” anh nói. Nhớ lại tiếng gầm rú bao trùm của chuyến tàu đêm qua khiến anh tỏ vẻ lắng nghe, dù không chú tâm lắm. Rõ ràng tàu qua đây nhanh, nhanh hơn nhiều chứ không phải qua vùng núi thì chậm lại như người ta nghĩ. Bất chợt anh dừng bước, quỳ một chân xuống, áp tai vào một thanh ray.
“Ba làm gì thế?” Kit ngạc nghiên hỏi.
“Một mánh lới cũ ba học được hồi ba bằng tuổi con. Con đã từng làm thử chưa?” Rồi anh nhận ra rằng đương nhiên Kit lớn lên ở thành phố, chưa từng biết cách lắng nghe tàu hỏa. Kit lập tức áp tai vào đường ray. “Con chẳng nghe gì cả.”
“Ôi trời,” ba nó nói. “Đủ thứ âm thanh.”
“Đủ thứ,” Kit nói. “Thế ba nghĩ sẽ nghe thứ âm thanh gì?”
“Một thứ âm thanh o o, u u,” ba nó nói. “Thật ra, vừa rồi ba cũng chẳng nghe gì. Nhưng nếu có tàu sắp đến, dù còn cách đến năm dặm hoặc hơn, con vẫn nghe tiếng.”
“Ồ, năm dặm ư?”
“Có thể xa hơn nữa,” ba nó nói.
“Hòn đá lớn đây rồi,” Kit chỉ tay. Quả thật hòn đá đổ bóng xuống dòng nước; John để ý thấy có một cái vũng nhỏ lẹm vào bờ, và nước có vẻ khá sâu. Có thể có cá hồi.
“Ba này. Hàng rào ấy để làm gì thế?”
John nhìn theo tay chỉ của Kit. “À, ba không biết. Ắt là hàng rào điện, căn cứ vào mấy trụ sứ cách điện ấy. Có thể để ngăn động vật đến gần đường ray.”
“Như gấu hở?” Kit nói.
“Bò thì đúng hơn,” ba nó nói.
“Montana là một tiểu bang tự do chăn thả súc vật. Mặc dù ba không biết một con bò sẽ làm gì ở bờ suối phía bên này, hoặc một hàng rào để làm gì, giữa vách núi và đoạn đường ray. Dù sao cũng đừng chạm tay vào hàng rào.”
“OK, ba,” Kit nói. “Ta hãy móc mồi vào lưỡi câu.” Nó lôi từ trong túi ra cái lon đựng giun mà nó đã đào nơi bờ suối trước khi lên đường. Hai cha con đang đứng giữa đường ray ngay bên dưới khối đá. Kit chăm chú móc một con giun đang ngọ ngoạy vào lưỡi câu, ba nó thì đang buộc một con ruồi nhuế màu đen.
Ngay lúc ấy một chiếc xe tải khổng lồ, bên hông có ba chữ cái M.A.D, viết tắt của “Montana and Dakota”—“Xe Tải Điên” là lời nói đùa trong khu vực—vấp phải một cái ổ gà khá lớn trên đường băng qua dòng suối, vì bị che đằng sau những cây thông rất cao mọc bên bờ đối diện. Người lái xe chửi thề và chuyển xuống số thấp hơn.
John Bagley cảm thấy, hoặc nghĩ rằng mình cảm thấy, sự rung động rất khẽ nơi cái tà-vẹt dưới chân. Và cái gì đó, trong một thoáng chốc rất ngắn ngủi, gây cho anh cái cảm giác kỳ lạ về cái bóng đen che chỗ anh đang đứng. Nó đang—nó đang chuyển động, và tiếng thét của Kit và cú nhảy theo bản năng của John Bagley khi anh cố tóm lấy Kit (nhưng vì bàn chân anh dẫm phải một hòn sỏi nhỏ, nên anh đã chụp lấy khoảng không), tất cả là một phần của một cơn ác mộng hỗn loạn, hoảng hốt và những tiếng động lộn xộn khi khối đá khổng lồ trên kia ầm ầm đổ xuống, vỡ thành hai mảnh gây ra một tiếng động rất lớn, và một khối vỡ lớn dừng lại chỉ cách hàng rào điện chừng một tấc, ở một vị trí mà khối đá lớn hơn lăn xuống sau va phải nó, văng ngược lên trời, bay qua khỏi hàng rào chỉ cách mép trên hàng rào vài phân.
Nếu như khối đá đầu tiên không dừng lại nơi nó đã dừng, thì nửa kia đã không tình cờ va chính xác vào nó, hoặc là nếu như cái trụ sứ cách điện bị vỡ không làm chùng sợi dây điện vừa đủ để giúp cho khối đá lao qua mà không chạm phải sợi dây điện, thì hàng rào điện hẳn đã nháy đèn báo động.
Trong giây phút hoang mang, John Bagley ngơ ngác nhìn quanh. Bụi đá lơ lửng trong không khí và anh đã té ngã vì trượt chân trên hòn sỏi, và Kit đâu rồi?
“Ba ơi! Ba ơi!” anh đã nghe, và anh quay lại.
Kit đang nửa nằm nửa ngồi trên đường ray. Khối đá vỡ to lớn, gối một phần lên đường ray, đang vắt qua cẳng chân nó.
John Bagley chạy nhanh tới chỗ con trai. Mắt lộ vẻ kinh hoàng, anh ngồi thụp xuống cầm tay Kit.
“Con không cựa quậy được, ba ơi!” Kit khóc lớn. “Con không cựa quậy được.”
John nhìn khối đá. Có lẽ, có lẽ nó đã không làm dập nát hay làm gãy chân con anh; dường như nó đang gối lên một thanh ray và một cái tà vẹt.
“Con đau lắm không?” anh khẽ hỏi, nhưng Kit đang khóc vì hoảng loạn, không thể trả lời.
“Kit!” anh hổ thẹn vì đã cao giọng gay gắt như thế, nhưng tiếng quát đã làm được điều anh hi vọng: Kit ngừng khóc.
“Không đau,” Kit nói. “Không đau lắm. Nhưng con không rút chân ra được. Đẩy hòn đá đi ba. Ba đẩy nó đi, làm ơn!”
John Bagley nhìn khối đá. “Xô nó ra đi ba,” Kit khóc thút thít. John kề vai vào tảng đá, biết rõ là vô ích, biết rõ không ai có thể lay chuyển được nó, nhưng cũng biết rằng vì con mà anh phải cố. Anh cố đẩy cho đến khi tim anh đập dồn dập và mắt anh mờ đi. Khối đá không nhúc nhích và John căm ghét nó vì nó lỳ lợm cưỡng lại sức mạnh cơ bắp của con người.
Anh nhận ra rằng anh không được buông xuôi cho sự hoảng loạn. Theo anh thấy, cẳng chân của Kit không có dấu hiệu bị biến dạng, và ơn Chúa, cũng không thấy máu. Anh cần phải tiến hành bình tĩnh, hiệu quả, khám phá mọi khả năng. Đừng mất bình tĩnh, anh tự nhủ, đừng, đừng.
Anh lại quỳ xuống bên cạnh con trai. Có vẻ như khối đá đang gối lên trên một thanh ray và lớp đá dăm nén chặt bên dưới những tà-vẹt, hoặc gối ngay trên một cái tà-vẹt cũng nên. Cẳng chân dưới của Kit khuất bên dưới khối đá trong cái khoảng hẹp giữa đáy khối đá, thanh ray, và mặt đất.
”Con nghĩ là bàn chân, ba à,” Kit thút thít. “Cẳng chân thì không sao, nhưng con không cựa quậy được bàn chân, con không thể rút bàn chân ra được.”
Rồi một cơn kinh hoàng ập đến với người cha, và mặt anh tái đi khi anh nghĩ, Ôi, lạy Chúa, xin giúp con ngăn Kit nghĩ đến việc này.
“Ba ơi!” Kit kêu lên. “Ôi, ba ơi, nếu như—nếu như—”
Muộn quá rồi. Kit cũng đã nghĩ đến điều ấy.
“Mạnh dạn lên con trai,” John nói, “Để ba gắng kéo con ra.” Anh chụp lấy hai vai của Kit.
“Ba làm thế con đau lắm,” Kit nói, lại thút thít khóc.
Vô ích. Giá như tìm được người đến giúp, đủ người để nhấc khối đá lên khỏi thanh ray để làm rộng thêm (ít nhất cũng tạ ơn Chúa lòng lành về việc này) cái khoảng trống mà chân Kit đang kẹt trong đó, thì Kit mới mong thoát nạn.
“Ba ơi, bây giờ ba sẽ làm gì?” thằng bé đã thôi khóc, nhưng nó đang run rẩy, run rẩy toàn thân, bần bật.
Đúng lúc ấy, hai cha con đều nghe vẳng lại, từ một khoảng cách không xác định được, tiếng còi hơi rền rĩ của đầu máy diesel.
“Tàu hỏa đấy,” Kit thì thào, hai mắt mở lớn vì kinh hoàng. “Ôi, Daddy, tàu hỏa đấy.” Đã từ lâu nó không hề gọi ba nó là “Daddy.”
Hãy giữ bình tĩnh, John Bagley nghĩ thầm. Đừng kê thân vào mà đẩy tảng đá, đừng cố di chuyển nó, ngươi không thể di chuyển nó được đâu, ngươi không thể kéo thằng bé ra, ngươi đã cố gắng đến hết, và còn vượt quá, giới hạn sức mạnh của ngươi. Ngươi thậm chí cũng không có một con dao hay một lưỡi rìu . . . Nhưng anh không thể tiếp tục mạch suy nghĩ này nữa.
“Kit này,” John nói, “ba sẽ để con lại đây rồi ba chạy theo đường tàu để chặn tàu lại.” Anh cố nói thật nhanh, đồng thời biết rằng anh không được để cho thằng bé biết anh đang sợ đến mức nào. “Rồi ba sẽ nhờ nhân viên đoàn tàu dời tảng đá đi.”
Tiếng còi khàn khàn lại vang lên. Nghe gần hơn hẳn.
“Ba ơi!” Kit la lên. “Tàu đến từ hướng nào? Nhỡ ba chạy sai hướng thì sao?” Nó vừa nói vừa vặn vẹo thân hình, vừa khóc vừa cố vùng thoát. “Tàu đang đến từ hướng nào?” Vẳng lại từ đằng xa, họ có thể nghe vang động tiếng ì ầm, dội đi dội lại trong hẽm núi.
“Tàu đến từ hướng ấy,” John nói và bắt đầu chạy nhanh về hướng mà từ đó âm thanh có vẻ như đang vọng lại, thì tiếng la của đứa con trai khiến anh dừng chân.
“Không, ba ơi, không! Từ phía kia, từ phía kia!” Kit chỉ tay theo hướng ngược lại. Giá như họ thấy được! Giá như đoạn đường sắt không uốn cong khỏi tầm mắt ở cả hai đầu! Giá như mọi tảng đá và mọi thân cây không làm biến dạng và hất ngược âm thanh, mà giờ đây dường như lớn hơn, khi đoàn tàu lao đến rất nhanh và vô hình—nhưng từ hướng nào? Giá như đầu máy diesel có nhả khói . . . . bây giờ thì anh không biết âm thanh phát xuất từ đâu, và anh sợ rằng con trai anh biết rằng anh không biết và dù xảy ra chuyện gì đi nữa, thì ít nhất con trai anh không nên biết điều này.
Toát mồ hôi, John Bagley áp tai vào thanh ray, cổ nén nỗi sợ hãi khi tiếng ì ầm rất lớn vang lên sát bên đầu anh.
“Ba biết được hưởng theo cách đó, phải không ba?” Kit nói. “Ba biết tàu đến từ hướng nào phải không?”
John đứng thẳng lên, nhìn con trai. Suốt đời anh, anh đã sợ hãi những giây phút như thế này. Anh biết—đã luôn luôn biết—cách đưa ra những quyết định ở trong phòng thí nghiệm. Luôn luôn có cái gì đó làm đầu mối để tiến hành, một tập hợp các dữ liệu để đánh giá, hay một hệ quả lô-gích của những gì đã xảy ra trước đó, hoặc một bảng gồm những con số mà cho dù đưa đến diễn dịch sai đi nữa, thì vẫn là có đó. Nhưng luôn luôn anh sợ rằng sẽ có lúc khi mà các dữ kiện hoặc hệ quả hoặc các con số đơn giản là không tồn tại, nhưng rồi phải chọn một bước đi cho dù bước đi ấy có nghĩa là lao đầu vào bóng tối.
“Ba biết hở ba?” Kit gần như hoảng loạn trở lại. John Bagley đã cố gắng đừng bao giờ nói dối, với chính mình hoặc với người khác.
“Ba biết, Kit,” John nói. “Bây giờ thì ba biết. Con đừng lo.” Nói xong anh tuyệt vọng cố chạy thật nhanh theo hướng ngược lại hướng mà anh và Kit đã đi đến, vừa chạy anh vừa cầu nguyện tiếng được tiếng mất.
Một tiếng còi nữa. Lớn hơn phải không? Hay nhỏ bớt? Và tiếng ì ầm lên cao–xuống thấp–lên cao . . . . nghe có vẻ như từ xa vọng lại. John Bagley suýt đứng hẳn lại, nhưng đã quá muộn rồi, quá muộn, hướng đi đã định, bước chân trong bóng tối đã thực hiện, và lần đầu tiên trong đời anh hiểu trọn vẹn thế nào là dấn thân không thể đảo ngược vào một hành động mà không có bằng chứng, không có lấy một mảy may chứng cớ rằng đấy là một quyết định đúng đắn. Tuy nhiên anh biết anh phải tới, chứ không thể lùi. Loé lên trong đầu anh cái hình ảnh điên rồ của chính anh đang hoảng loạn chạy theo hướng này, rồi chạy ngược lại hướng kia, bị đánh lừa bởi tiếng vọng lại từ núi, giống như một cầu thủ chạy bóng dại dột bị kẹt giữa cầu thủ thứ hai hoặc thứ ba trong môn bóng chày.
Hai bàn chân anh nện xuống lớp xỉ than rải giữa các tà-vẹt, mà anh nguyền rủa vì khoảng cách quá rộng giữa hai tà-vẹt khiến thỉnh thoảng anh lảo đảo. Anh đã té một lần, rách quần nơi đầu gối, rồi gượng đứng dậy chạy tiếp. Lại vang lên tiếng còi tàu, tim anh muốn ngừng đập, vì tiếng còi dường như nhỏ bớt đi. Nhưng anh gắng gổ chạy tiếp. Quyết định đã chọn. Đúng hay sai, thì cũng đã chọn.
Anh tới chỗ đường cong mà qua khỏi chỗ này đến một vị trí nào đó—nếu anh đi đúng hướng—sẽ thấy đoàn tàu. Sẽ phải thấy đoàn tàu. Ngoái lui, anh nhìn nhanh Kit lần cuối, đang bị khối đá ghìm chặt, trông như sát sau lưng anh (thật ra anh đã chạy một quãng đường khá dài) và anh chạy nhanh hơn nữa, mạch máu đập dồn, tim đập dồn, đầm đìa mồ hôi. Anh đã hy vọng rằng một khi tới được đoạn đường cong anh sẽ có thể thấy (và được người ta thấy) một quãng đường dài. Nhưng đoạn cong này rất ngặt, hoặc là hai vách núi được xẻ cho đường ray đi qua quá gần nhau, nên anh vẫn không thấy gì cả.
Anh dừng lại, thút thít vì kiệt sức. Anh không thể chạy thêm được nữa. Phải dừng ở đây thôi nếu anh muốn còn đủ sức để vẫy tay. Nhưng không có đoàn tàu nào cho anh vẫy. Hai thanh ray, sáng loáng trong nắng, uốn cong như trêu tức cho đến khi chúng mất dạng đằng sau vách hẽm núi, hoàn toàn trống trơn. Anh chú tâm lắng nghe, nghe bất kỳ âm thanh gì, nhưng trong tai anh chỉ vang lên tiếng vỗ đập của sự kiệt sức. Anh cảm nhận thân hình anh đang chao đảo bên mép rìa của ý thức; và lần đầu tiên, cố gắng giữ sự tỉnh táo nhưng đành chịu thua, anh biết rõ sự phí công và cơn tuyệt vọng rốt cuộc đang bắt đầu đánh bại anh.
Rồi đột nhiên át đi âm thanh đang gào thét trong tai là một tiếng động xa lạ dữ dội, tiếng thét của một chiếc còi hơi, rất gần, và cách chừng 300 mét, hiện ra trước mắt cái mũi to lớn bằng thép, anh thấy đoàn tàu đang lao tới. Đứng ngay ngắn giữa đường ray, anh cố thu chút sức tàn để vẫy tay và, thật ngớ ngẩn, hét lớn, và anh đứng yên tại chỗ khi anh nghe tiếng thét mỗi lúc mỗi lớn của còi tàu, nhảy tránh sang một bên rất muộn đến độ trong cái phút giây ngập tràn sợ hãi anh sợ rằng anh sẽ nát thây dưới những bánh xe.
Tạ ơn Chúa, là một đầu máy diesel, có nghĩa là không có gì làm vướng mắt viên kỹ sư lẫn người lái tàu: ắt hẳn họ đã thấy anh. Rồi anh nghe tiếng phanh ken két và thấy những tia lửa bắn ra khi những bánh xe bị khoá cứng trượt trên thanh ray và trước khi ngất đi anh mơ màng nghĩ. Họ đã nhận ra ta, họ sắp mài phẳng mọi bánh xe, Chúa ơi. Tạ ơn Chúa họ đã thấy ta, họ thấy ta và họ sắp dừng lại.
Anh tỉnh lại khi toa cuối cùng rùng rùng dừng lại và một thành viên của đội lái tàu, nhảy xuống, chạy về phía anh.
“Con trai tôi,” anh hổn hển, đưa tay chỉ. “Con trai tôi . . . đằng kia.”
* * *
Sau đó, khi đội lái tàu đã xeo khối đá lên đủ cao để Kit có thể rút chân ra và ông nhân viên trực phanh hãm tàu đã buộc một thanh nẹp nhỏ vào mắt cá chân của Kit, mặc dù nó chỉ bị trầy sướt nhẹ, và mọi người cùng nhau trở lại khu đất cắm trại (ông nhân viên trực phanh vạm vỡ nhất mực ẵm Kit đi trọn đoạn đường) Myra Bagley nhìn chồng nói khẽ, “Ôi, John, làm sao anh biết tàu sẽ đến từ hướng nào? Làm sao anh biết, ở vùng núi như thế này, nơi mà mọi âm thanh đều dội lại như thế?”
“Myra,” John mở lời, “Anh—”
Rồi anh nín bặt. Anh biết nói sao với cô ấy? Cái sự bất khả tư nghị của sự tình cờ của Số Phận, cái sự nhắc nhở đen tối rằng bên ngoài lãnh vực sáng chói của một thí nghiệm có kiểm soát, sự trưng ra bằng chứng, sự liều lĩnh có tính toán, là một cái gì đó không thể tính toán được. Sau này, có lẽ, sau này rồi sẽ nói. Bây giờ cứ để Myra (và Kit) nghĩ rằng anh đã biết.
“Anh đã dùng một cái mánh lới rất xưa của Hướng Đạo sinh,” anh nói, hơi mỉm cười, cảm thấy sức mạnh đã trở lại với anh. “Anh áp tai vào thanh ray.”
“Và anh biết được hướng tàu đến?” Myra hỏi.
“Đương nhiên,” anh nói dối. “Đương nhiên, nếu em biết cách.”
“Em nhẹ cả người,” Myra nói. “Ôi, John, nếu như anh đã phải đoán mò . . . .”
Lúc đó anh biết anh sẽ chẳng bao giờ có thể nói thật cho cô ấy biết.